Theo một số tài liệu, tháng 2-1924, Công ty Đông Dương kinh doanh thương mại, nông nghiệp và tài chính (SICAF) phát hành cổ phiếu mang tên Công ty Chè Đông Dương (STI), xúc tiến thành lập Sở trà Biển Hồ; đến năm 1925 được phép khai hoang và năm 1926 được giao đất tạm thời.
Cùng với sự hình thành Sở trà Biển Hồ là quá trình chiêu mộ dân đồn điền từ miền Trung lên vùng đất mới, tạo nên khu dân cư đầu tiên quanh hàng thông trăm tuổi rồi dần mở rộng ra các khu vực lân cận.
Gần 1 thế kỷ sau, ngay trên vùng đất ấy, gia đình chị Đoàn Thị Thúy (SN 1992, ở thôn 6, xã Biển Hồ) vẫn lặng lẽ tiếp nối hương vị chè xưa bằng những sản phẩm trà đen, trà xanh mang thương hiệu Phước Hỷ, được làm từ các đọt chè non của những vườn chè lâu năm quanh chùa Bửu Minh, hàng thông trăm tuổi.
“Ba tôi từng làm công nhân Nhà máy chè Biển Hồ. Tôi sinh ra, lớn lên trên vùng đất gắn với cây chè nên mong muốn làm ra sản phẩm để góp phần giữ gìn, nâng cao giá trị và nét đẹp của vùng chè Biển Hồ lịch sử. Tôi cũng mong du khách gần xa đến thăm vườn chè, thưởng thức hương vị chè Biển Hồ và biết đến đặc sản địa phương” - chị Thúy chia sẻ.
Năm 2024, trên địa bàn xã Nghĩa Hưng, huyện Chư Păh (cũ) còn hơn 220 ha chè, phân bố chủ yếu tại các thôn 1, 2, 4, 6, 7 và làng Ea Lũh. Riêng gia đình chị Thúy có khoảng 7 sào chè nằm ở khu vực gần chùa Bửu Minh.
Không đặt nặng sản lượng, gia đình chị chăm sóc vườn chè theo hướng hữu cơ, sử dụng phân bón được ủ từ rau củ quả. Mỗi năm, vườn chè cho khoảng 10 tấn chè tươi.
Từ nguồn nguyên liệu sẵn có, năm 2025, gia đình chị Thúy bắt đầu làm trà đen, trà xanh chủ yếu phục vụ khách tại quán cà phê của gia đình, đồng thời kết hợp quảng bá hương vị Biển Hồ chè đến du khách ghé thăm Hàng thông trăm tuổi, chùa Bửu Minh.
Điều đặc biệt là phía sau những mẻ trà ấy không chỉ có câu chuyện khởi nghiệp của người trẻ, mà còn là sự tiếp nối ký ức của một thế hệ từng gắn bó sâu nặng với cây chè Biển Hồ.
Ông Đoàn Hữu Biểu (SN 1962, cha chị Thúy) có gần 20 năm làm công nhân Nhà máy chè Biển Hồ. Quê gốc Thái Bình, vào Gia Lai năm 1985, ông từng làm tại Ban Quản lý công trình Nhà máy chè trước khi chuyển sang bộ phận sản xuất.
Nhắc về quãng thời gian ấy, ông vẫn nhớ rõ những nhọc nhằn của người trồng chè: “Ngày trước, đời sống khó khăn nên người làm chè rất vất vả. Mưa bão cũng phải ra vườn hái đúng đợt, vì chỉ cần chậm là búp chè loại A sẽ rớt xuống thành chè loại C”.
Theo ông Biểu, vườn chè của gia đình được trồng từ trước năm 1982, còn nhiều vườn chè quanh hàng thông trăm tuổi đã có từ thời Pháp thuộc. Từ kinh nghiệm tích lũy suốt nhiều năm, ông Biểu cùng các con giữ nghiêm ngặt từng công đoạn từ thu hái chè tươi, ủ chè, lên men đến sao chè thủ công để tạo nên sản phẩm trà đen, trà xanh mang đậm hương vị riêng của vùng Biển Hồ chè.
“Khi các con đưa ra ý tưởng làm các sản phẩm trà, tôi lập tức ủng hộ vì đây cũng là tâm nguyện của mình với vùng đất đã gắn bó suốt 40 năm qua. Ngày xưa, tôi làm công nhân chè, giờ lại cùng các con làm chè để lan tỏa hương vị đặc sản địa phương. Đó cũng là cách gia đình tôi giữ gìn mối nhân duyên với quê hương thứ hai” - ông Biểu bồi hồi nói.