.

Cao nguyên phồn sinh trong nắng biếc

Thứ Tư, 01/02/2017, 15:24 [GMT+7]

Ánh mắt hải hồ cũng còn lang thang ở đó, huống chi ta!

(GLO)- Nhớ lắm cao nguyên mùa khô hanh vàng trên đất đỏ. Cái mùa dương (khô) so với mùa âm (mưa) kia. Cái mùa của hủy diệt nhưng lại là khởi đầu của sinh sôi. Mùa của rã rời, bòn rút, thử thách, nhưng ủ ê sự sống, nuôi dưỡng, chờ đợi, nung nấu, tái tạo.

 

Tây Nguyên, với tôi, chỉ có hai cực dương-âm đó thôi, chẳng cứ phải Xuân, Hạ, Thu, Đông rườm rà, nhưng nó đưa cả miền thượng tuần hoàn, đúng kỳ đúng hẹn. Thì nó như vai trò thần quyền huyền thoại của Pơtao Pui (vua Lửa) và Pơtao Ia (vua Nước) về hai trạng thái vật chất của trời đất quan trọng nhất, hóa thiêng đó mà xứ sở này là quê hương và từng in đậm trong đời sống cư dân vào một thời quá vãng. Hai tiết mùa thôi nhưng đủ làm tròn quy luật tạo hóa, êm ái và che chở chúng sinh. Hai mùa thôi nhưng đủ làm Tây Nguyên mênh mông, cuồn cuộn, thâm hậu, rạng rỡ. Hai mùa thôi nhưng đủ làm từ trường Tây Nguyên mạnh và cái phần thân thể của nó là thượng nguồn sông Mê Kông, sông Ba, sông Kôn là cao nguyên Jrai này sừng sững. Nó là như biểu tượng âm (Yoni)-dương (Linga) tự nhiên khổng lồ của Biển Hồ và ngọn Chư Hdrông kia.

Chẳng đâu trên đất nước này mà xứ sở có biểu tượng tự nhiên sâu xa về tính đực-cái rõ ràng và sinh động đến thế này. Ở đây, xa xưa đến giờ, không có sự  đưa thành luận lý, hay lý thuyết, thành văn, mà diễn ra thuần hậu, đơn giản, như là sự trao đổi chất tự nhiên trong đời sống, rất đời, rất dân gian. Đời lang bạt, cái tàn khốc từ thiên nhiên hình như là bằng hữu, vỗ về, thành nơi trú ngụ. Nên những mùa khô tôi dạt tới Gia Lai cũng dội vào, ngấm tự nhiên trên đời lang bạt, dù mình không phải con dân. Vẫn chung một mùa dương trời đất phủ xuống miền thượng, song mùa khô Gia Lai lại cứ đội lên cái “khô” riêng của mình. Bao độ ăn, ngủ, la cà, bao độ bị mùa khô ở đây đày đọa và ban phước, chợt nghe được chút thì thầm của thảo mộc, làn hơi xứ người.
 

  Thác Bàu Cạn. Ảnh: Phan Nguyên
Thác Bàu Cạn. Ảnh: Phan Nguyên

*

*        *

Thì đó là lúc màu nắng ánh vàng trên màu xanh cây trái, tràn đầy, bàng bạc khắp núi rừng xưa và cái nóng hanh nâu cứ làm chủ không gian. Đợi sự mát mẻ như đợi những nụ hôn của trời dành cho mặt đất. Nhưng nó nói với ta về miền nhiệt đới. Không biết nó có mang mùi vị cùng năng lượng từ đại dương qua cửa Thử-cảng thị cổ xưa của người Chăm-leo đèo An Khê để về đây. Ta đã chênh vênh, rồi bàng hoàng trước sắc khí khô hanh khác miền hạ Lào Kon Tum khô như tan chảy trên ấy, hay ngang tàng của cao nguyên Đak Lak, mênh mông hoang hoải của cao nguyên MNông bên này và cả lững lờ của cao nguyên Mạ BLao dưới chót Nam Tây Nguyên kia nữa. Cái “khô” ở cao nguyên Pleiku chẳng hiểu sao nó rất “vừa phải”, không quá tàn bạo mà cũng không lừng khừng. Có thể do độ cao trên 600 mét cùng khoảng lùi đủ cách xa mặt biển. Mà không biết có hơi thở gì của “thế giới” Pơtao Pui ánh xạ lên thiên nhiên cùng cõi thế tục nơi này.

Ta ôm mùa khô xứ lạ vào lòng và cúi đầu hấp thụ. Ta ôm nắng biếc vào tâm trí, mà nắng biếc là thứ nắng thơm tho và độ lượng, thứ nắng có tâm hồn.

Ấy là lúc từ mặt đất, những vườn hồ tiêu vo màu xanh thành trụ và ngửa lên trời ở Chư Sê cơ hồ không còn là trạng thái thực vật, kinh tế nông nghiệp mà phảng phất hơi thở về thứ biểu tượng phồn thực Linga-Yoni kia ở chiều cảm thức vũ trụ, trong tương tác của con người với thực tại đời sống thật. Linga-Yoni dựng thành vườn, vườn nọ nối vườn kia, thảm trên những khe núi, sườn đồi, lạ, hồn nhiên hơn điêu khắc, dù người nông phu tạo ra nó không hề có ý thức về điều đó. Vì nó hiện sinh nên nó còn nhân bản, gần gũi, cao cả hơn khi nằm trong các ngôi tháp gạch đá thiêng mà trong quá khứ mù xa các cộng đồng nói ngôn ngữ Malayo-Polynésien như người Jrai ít nhiều chịu ảnh hưởng khi người Ấn Độ tung ra và người Chăm mang lên buổi nọ.

“Vương quốc hồ tiêu” Chư Sê của Tây Nguyên ấy không chỉ phồn thịnh giàu có mà hình thái thôn làng, plơi, plei đẹp tự nhiên làng quê núi. Đến mức cái khổ cực, tần tảo, chìm nổi của con người với hạt tiêu rất có thể dễ bị phủ bóng mờ. Thì cũng như những cánh rừng khộp ở Chư Prông, Đức Cơ vào mùa rụng lá đẹp tan hòa trời đất, làm liêu trai xứ sở, mà ngay cả tranh của Đào Hải Phong, Van Gogh hay Levitan cũng không thể so sánh. Nó hóa mộng hơn, khi trong không gian thực đó, lướt qua là hình ảnh những người phụ nữ Jrai địu con và ôm mớ thổ sản cần mẫn lướt qua trong sắc nắng không nương tay của mùa khô. Nó thân thương như cánh đồng cao nguyên đôi bờ sông Ayun trắng phau sau mùa gặt của người Bahnar và cộng đồng rục rịch cho tháng ngày Khêi ninh nơng. Nó trắng nức nở màu tuyết giữa thiên thanh miền nhiệt đới khi những vườn bông vải trên đất cát pha ở Kông Chro khép lại tấm thân diệp lục, dù ở đó nhiều phen dân cày đang ê ẩm vì nông sản thất mùa hay rớt giá, nỗi buồn lo đang tê tái trong căn nhà. Nó bừng rỡ, rộn rã khắp muôn trùng núi đồi, thung xa trong màu hoa cà phê trắng muốt mênh mông ở Chư Pah khi vào kỳ khát nước và được tiếp nước.

*

*        *

  Nhịp chày trên buôn. Ảnh: Huy Tịnh
Nhịp chày trên buôn. Ảnh: Huy Tịnh

Cuộc sống mùa khô còn rộn rã, chuyển động hơn cả mùa mưa. Từ con người, vật nuôi, đường phố, thôn trang, đến cây trồng đều chộn rộn. Thời khắc này, Tết Nguyên đán đã về và kỳ “ăn năm uống tháng” Khêi ninh nơng của các sắc dân bản địa sơn nguyên đang diễn ra ở các plei thuần nông. Cái lõi tỉnh lỵ, đường phố Pleiku cũng kịp tràn ngập hoa cúc, quất, mai vàng, vạn thọ, lay ơn, xương rồng tha nhân đưa từ miền Duyên hải Bình Định, Phú Yên lên. Đây đó cũng có những cành mai núi đưa từ đôi cánh rừng cuối cùng ở huyện xa về tỉnh lỵ. Mùa khô thành mùa của giao hòa, không còn phân biệt giữa phố với quê, xã hội nông thôn với xã hội đô thị, công nghiệp với nông nghiệp, thị dân với nông dân, quan quyền với thường dân, vô thần với hữu thần. Nắng nóng làm phẳng thời gian, cái giàu lẫn cái nghèo, trắc trở hay thuận lợi, hạnh phúc hay bất hạnh. Những trường ca của thiên nhiên chồng lên những giai điệu của thế tục, những nốt lặng của ký ức len trong những biến tấu phồn thực của thời đại, những hoan hỉ của nhân gian so kè với những vật vã của thảo mộc. Lướt qua mùa trằn trọc của màu xanh này, mắt tôi vui tưng bừng, lòng tôi buồn rộn rã. Vì vậy mà tôi yêu cuộc sống, yêu cao nguyên đang trạng thái khô, cực này của phồn thực.

*

*        *

Sông suối đã đứt đoạn, mòn mỏi, hao gầy, thôi lê thê thì tôi ngắm nhìn những lòng hồ thủy điện mênh mông nước. Đại ngàn đã mờ xa thì tôi ngắm nhìn những dải rừng cao su kia thay cho rừng nguyên sinh nhiệt đới. Những nhà rông nội sinh, sinh hoạt dân gian vơi đi, thì thôi tôi ngắm những nhà rông lý trí kỹ nghệ. Như những vườn “triển lãm” điêu khắc rồi bỏ quên ở các khu nhà mồ Jrai, Bahnar dù tượng bê tông đang thay tượng gỗ ta vẫn cứ muốn ghé qua. Nó vẫn mơ mộng được, như những cung đường dã quỳ sắc hoa màu nắng vàng vọng lên ngọn Chư Hdrông kia dù không còn “back ground” (phông nền) cây rừng nào nó vẫn làm ta bồi hồi và khó quên, dù dã quỳ cao nguyên nhiệt đới nào cũng có. Cao nguyên Pleiku đúng là cao nguyên phồn thực, đẫy đà, mặn mà và bí ẩn như gái xinh chưa lấm “Sài Gòn”, “Hà Nội”, “Quy Nhơn”, “Huế”, cứ là chính mình; sức sống dồi dào như vô tận, từ tốn, e lệ, biến hóa, biến ảo và thích ứng. Nó khiến một kẻ không nhà, không quê xứ, không danh phận như tôi cũng thấy mắc nợ, nghĩ về, ngóng vọng.

Nắng “vừa phải” kia ơi, kỳ này nhớ gội giùm ta chút bụi đời, lang bạt, vì ta quá thừa nông nổi mà mi quá dư tĩnh tại.

 Nguyễn Hàng Tình

.
.
.
.