Ðếm trên đầu ngón tay
Âm thanh lách cách chẻ tre, mùi dầu rái đặc trưng của những chiếc thuyền thúng ngày càng thưa thớt dần tại làng đan thúng truyền thống xã Bình Minh, thành phố Đà Nẵng. Một số người lớn tuổi cho biết, trước đây người đan thuyền thúng rất nhiều, nhưng hiện chỉ còn đếm trên đầu ngón tay.
Đi dọc suốt đoạn đường dài chỉ còn đâu đó vài bóng người ngồi miệt mài vót tre. Khéo léo cố định xong chiếc vành thúng, ông Nguyễn Quang Thơ (72 tuổi, thôn Hà Bình, xã Bình Minh) đã gắn bó cả đời với nghề nhìn chăm chú vào từng thanh tre chia sẻ: “Từ nhỏ tui đã theo phụ cha mẹ làm cái nghề này, muốn đi biển thì phải tự làm thuyền để đi, quen tay rồi gắn với nghề”.
Theo ông Thơ, không đơn giản để làm được một chiếc thuyền, tất cả công đoạn đều làm thủ công từ chẻ tre thành nan đến đan thúng, quét dầu rái. Mỗi chiếc thuyền phải mất từ 12 đến 15 công (ngày làm) mới hoàn thiện, bán ra khoảng 6 triệu đồng một chiếc. Nhưng hiện tại ngư dân hầu hết đã giã từ thuyền thúng tre để chuyển sang loại thuyền thúng nhựa composite.
Sự chuyển đổi trong phương tiện đánh bắt của ngư dân thời hiện đại khiến cho những thợ đan thuyền càng thêm vắng bóng. Ông Võ Đăng Khoa (73 tuổi) luyến tiếc chia sẻ: “Nghề này cần phải có sự khéo léo và tỉ mỉ, từ khi làm nghề, tay tôi không lúc nào lành lặn, toàn những vết xước, chai sần từ tre.
Lớn tuổi không thể bám biển nhưng cũng phải làm nghề kiếm ngày 200 đến 300 ngàn đồng trang trải cho cuộc sống gia đình. Giờ thì họ chuyển hết sang thuyền nhựa để tiện việc đánh bắt hơn, thuyền thúng chẳng còn mấy người dùng”.
Nghề đan thúng cần sự khéo léo và cần mẫn trong từng công đoạn. Từ việc chọn lựa những cây tre mỡ già, đạt chất lượng đến kỹ thuật chẻ và vót tre thành từng nan nhỏ, đều để đảm bảo độ bền, rồi phơi khô, sau đó bắt tay vào đan đáy thúng. Trong đó lận thúng là khâu khá vất vả vì phải dùng sức rất nhiều, kết hợp các dụng cụ như cọc tre và vật nặng để cố định sao cho chiếc thúng có hình tròn.
Vành thúng được chọn từ những cây tre to, chắc, xung quanh cắm cọc rồi dùng thép để cố định vành uốn cong thành hình tròn. Thúng sau khi lận được trét lên hỗn hợp phân bò tươi cùng với dầu rái đem đi phơi khô để ngăn nước biển thấm vào từ các khe hở.
Khi công việc trải qua nhiều công đoạn phức tạp, nhưng khi nhu cầu sử dụng giảm, nghề đan thuyền thúng cũng rơi vào cảnh đìu hiu. Người trẻ không còn mặn mòi với nghề đan thúng vì kinh tế nghề đem lại thấp, làng nghề đối mặt trước nguy cơ đứt gãy.
Thuyền composite lên ngôi
Khác với thuyền tre phụ thuộc nhiều vào bảo dưỡng thủ công, thuyền composite có độ bền ổn định và tiết kiệm nhiều công sức hơn. Vật liệu composite là sự kết hợp giữa sợi thủy tinh, vải và nhựa polyester hoặc epoxy, tạo nên lớp vỏ nhẹ, chống thấm tuyệt đối với ưu điểm lớn là chịu lực tốt giúp thúng nổi trên sóng, ít sợ va chạm hơn.
“Để làm ra một chiếc thúng tre cần từ 5-6 cây tre, loại tre mỡ, nhiều nan, mỗi cây dao động khoảng 60.000đồng, và làm trong vòng 1 tháng mới xong. Còn một chiếc thuyền composite làm xong giá khoảng 15-16 triệu cao hơn thuyền thúng nhưng đổi lại độ tiện lợi của nó rất cao. Ít hư hỏng, thời gian sử dụng lâu dài và đặc biệt là không bị vô nước, hạn chế chi phí bảo trì”, ông Nguyễn Văn Tam 49 tuổi, một ngư dân đã chuyển từ thuyền tre sang nhựa composite chia sẻ.
Đặc biệt phần lớn ngư dân ở biển đều có thể tự làm cho mình những chiếc thuyền thúng composite. Theo ông Tam, để làm ra một chiếc thuyền thúng nhựa composite không khó. Các công đoạn cũng đơn giản hơn rất nhiều so với thuyền làm từ tre. Đầu tiên là tạo khuôn bằng bê tông hoặc bằng đất đắp theo hình chiếc thúng. Bọc lớp ni lông chống dính bên ngoài, trải thêm lớp vải thủy tinh rồi quét nhựa composite lên khoảng 5-6 lớp, sau đó phơi khô và lắp khung gỗ phía trong để gia cố.
Khi nhựa cứng hoàn toàn, lắp thêm miệng thúng và động cơ máy vào là hoàn thiện. Một chiếc thuyền làm ra mất khoảng 6 - 7 ngày, nhanh và dễ làm hơn so với thuyền thúng tre.
Thúng tre lên phố
“Cái khó ló cái khôn”, khi dần lui khỏi vai trò trong mưu sinh trên sóng biển, thuyền thúng tre lại được tái định vị trong lĩnh vực du lịch. Không còn là một vật dụng đánh bắt hải sản thuần túy, thuyền thúng nay xuất hiện nhiều tại điểm du lịch, resort, khách sạn, homestay, các quán cafe, và trở thành điểm nhấn của những trải nghiệm văn hóa bản địa.
Tại Hội An, từ những thủ phủ du lịch như Rừng dừa Bảy Mẫu, các khu nghỉ dưỡng, thúng tre đã khoác lên mình diện mạo của một “đại sứ văn hóa”. Những hoạt động chèo thúng, lắc thúng không chỉ tạo thêm điểm nhấn cho du lịch mà còn góp phần giữ lại giá trị truyền thống.
“Hiện tại tôi đan thuyền thúng để bán cho các khu du lịch ở Hội An, và đây cũng là đầu ra chính của thúng tre. Những chiếc thúng tre đã góp thêm một phần đặc sắc vào các hoạt động du lịch để du khách trong và ngoài nước hiểu biết thêm về một vật dụng truyền thống ngàn đời của ngư dân miền Trung”, ông Khoa bộc bạch.
Thúng tre lên phố đã thể hiện sự thích nghi và hài hòa giữa giá trị truyền thống với nhịp sống hiện đại. Cũng như hiện đang có rất nhiều nghề truyền thống đã kịp thích nghi để bước vào cuộc sống hiện đại, tìm thấy cơ hội sinh tồn mới trong bối cảnh nền công nghiệp văn hóa, du lịch đang phát triển. Sự hồi sinh này cũng đặt ra bài toán mới cho các làng nghề nếu muốn tồn tại.
Để có thể kéo dài vòng đời của những chiếc thúng tre độc đáo - một biểu tượng văn hóa truyền thống, giúp cho những giá trị cũ không hoàn toàn bị biến mất. Sự dịch chuyển này đã thổi một luồng sinh khí mới vào đời sống của những nghệ nhân. Đôi bàn tay chai sần thay vì đan thúng để vươn ra biển khơi chống chọi với từng con sóng, nay lại học cách tạo nên những tác phẩm trong du lịch trải nghiệm.
“Một khi biển vẫn còn thì thuyền thúng tre không thể chết được, tôi sẽ vẫn còn đan”, ông Thơ tâm sự. Cơ hội mới mở ra không chỉ giúp người thợ giữ được cái nghề suốt đời gắn bó của mình mà còn thay đổi góc nhìn về giá trị sản phẩm trong xã hội. Tiếng chẻ tre vót nan lạch cạch không còn đơn lẻ mà giờ đây vang lên đều đặn, như minh chứng cho sức sống mãnh liệt của một làng nghề tự làm mới mình để tồn tại.
Theo MỸ LY (TPO)