.

Bại não là một thuật ngữ thường dùng để mô tả một nhóm các tình trạng bệnh mạn tính ảnh hưởng đến vận động và sự phối hợp cơ bắp. Bại não do các tổn thương một hoặc nhiều vùng của não, thường xảy ra trong quá trình phát triển của thai nhi trước, trong hoặc sau sinh một thời gian ngắn hay trong thời kỳ trẻ nhỏ.

Bại não là một bệnh không tiến triển, không lây.

Bại não không phải là một rối loạn chỉ do nguyên nhân duy nhất. Đây là một nhóm các rối loạn kiểm soát vận động giống nhau với nhiều nguyên nhân khác nhau. Bại não bẩm sinh do các tổn thương não xảy ra khi thai nhi còn nằm trong tử cung hoặc trong khi sinh (chiếm 70%).

Nguyên nhân gây bại não:

- Nhau thai bất thường không cung cấp đủ ôxy và chất dinh dưỡng cho thai nhi.

- Bất đồng nhóm máu giữa mẹ và con.

- Mẹ mắc các bệnh truyền nhiễm trong thai kỳ đầu.

- Trẻ sinh thiếu tháng hoặc thấp cân.

- Thiếu ôxy kéo dài trong khi sinh hoặc vàng da nặng sau sinh.

Các dấu hiệu sớm của bại não thường khởi đầu trước 18 tháng tuổi. Cha mẹ là người đầu tiên nhận thấy trẻ không phát triển được kỹ năng vận động bình thường. Trẻ chậm lẫy, chậm bò, chậm biết đi so với mốc phát triển bình thường. Trẻ bị giảm trương lực cơ: chi mềm nhũn, buông thõng; hoặc tăng trương lực cơ: trẻ cứng đờ hoặc vận động cứng nhắc.

Các dấu hiệu lâm sàng:

- Thể co cứng (chiếm 70%-80%): Các cơ cứng nhắc và co cứng thường xuyên. Co cứng 2 chân hoặc nửa người.

- Thể loạn trương lực (chiếm 10%-20%): Có những vận động bất thường ở 2 chân và 2 tay. Mặt nhăn nhó, nói khó, chảy nước dãi. Các vận động bất thường này mất khi đi ngủ. Ở trẻ lớn biểu hiện: viết chậm, không kiểm soát được động tác.

- Thể thất điều (chiếm 5%-10%): Bước đi khó khăn, loạng choạng, khó thực hiện động tác chính xác. Run tay, chân.

Tùy theo vùng não bị tổn thương mà trên lâm sàng biểu hiện các triệu chứng đa dạng: co cứng, nuốt khó, nói khó, rối loạn tư thế hoặc vận động. Có thể rối loạn chức năng các giác quan: điếc, không ngửi được, giảm thị lực. Đôi khi co giật, chậm phát triển tâm thần, bất thường về hô hấp, rối loạn tiểu tiện.

Chăm sóc và phòng bệnh:

Trẻ cần được chăm sóc phối hợp với sự kết hợp của bác sĩ điều trị, nhân viên vật lý trị liệu, giáo viên, nhân viên công tác xã hội. Điều này cần bắt đầu từ rất sớm ngay khi phát hiện bệnh của trẻ. Điều trị bằng nội khoa, phẫu thuật và phục hồi chức năng giúp cải thiện sự phối hợp động tác cơ và dây thần kinh, phòng ngừa hoặc làm giảm tối thiểu các rối loạn chức năng.

Có nhiều biện pháp phòng bệnh bại não trước sinh. Bà mẹ cần được theo dõi và quản lý thai nghén chặt chẽ. Xét nghiệm yếu tố Rh, dự phòng hậu quả của bất đồng nhóm máu. Nếu có bất đồng nhóm máu thì trẻ phải được thay máu hoặc điều trị vàng da ngay từ những ngày đầu sau sinh. Bà mẹ cần được phát hiện và điều trị các bệnh mạn tính, nhiễm khuẩn đường sinh dục-tiết niệu, tiêm phòng bệnh Rubella trước khi mang thai. Tránh tiếp xúc tia phóng xạ, dùng thuốc và các chất kích thích trong quá trình thai nghén. Người mẹ phải khỏe mạnh trước lúc thụ thai; chăm sóc trước sinh tốt, chế độ dinh dưỡng đầy đủ để tránh sinh non tháng, thấp cân. Bảo vệ trẻ khỏi các bệnh nhiễm trùng và chấn thương sọ não.

Bác sĩ Ngô Văn Tuấn (nguồn: nld)

.
Bình luận (0)
.
.