.

Những ngày gió lên

Thứ Hai, 30/01/2017, 08:35 [GMT+7]

(GLO)- Một trong những đặc sản của Gia Lai là… gió.

Cũng chả hiểu sao trong cái ngày cuối năm này tôi lại ngồi và nhớ về gió. Nhớ da diết, nhớ đến rõ mồn một những cơn gió tôi đã trải, cả trong đời và trong… tưởng tượng.

 

Dã quỳ trên thảo nguyên.               Ảnh: Doãn Vinh
Dã quỳ trên thảo nguyên. Ảnh: Doãn Vinh

Ấy là những cơn gió lồng lộn của mùa khô năm 1981, tôi xuống làng Bạc tìm chị HNoanh. Người phụ nữ Jrai tôi xuống tìm lần ấy sau này đã trở thành nhân vật của nhiều tác phẩm, cả báo chí và văn chương. Cuộc đời của chị, ai cần tìm hiểu, search Google sẽ biết, nhưng cái cơn gió mà lần đầu tiên tôi biết ấy thì cả cỗ máy khổng lồ kia có vận hành hết sức cũng không có.

Tất nhiên là rất lạnh. Tất nhiên là rất bụi. Tất nhiên là rất… không ngủ được, khi mà có mỗi một đống lửa phập phù tối sáng giữa nhà, mọi người nằm quây quần xung quanh. Và đói. Giờ mới hiểu sao các cụ ta hay dùng cặp từ đói đi cùng với rét. Càng đói thì càng rét và ngược lại. Và trong cái đêm không ngủ ấy, tôi đã chứng kiến thế giới đêm của người Jrai.

Nhà rông la liệt trai làng ngủ. Chính xác là những người đàn ông không và chưa có vợ. Người thì tấm dồ, người thì cái chăn mỏng. Co ro quanh đống lửa và những câu chuyện thì thầm. Số người ngủ ít hơn người thức. Chợt một tiếng đàn bật lên. Đàn kní. Buồn, chậm, da diết… Một thanh niên cho biết vợ anh này mới qua đời, cứ khuya là anh chơi đàn. Tất cả lặng phắc, chỉ còn tiếng gió lồng lộn bên ngoài, phần phật bên trong vì vách nhà rông rất thưa, không chỉ xiên ngang, gió còn luồn từ dưới sàn luồn lên và tiếng đàn kní não lòng kia.

Mùa này, hoa xuyến chi đẹp nhất.

Sau dã quỳ là xuyến chi, thứ hoa màu trắng, li ti tinh khiết, thứ hoa dân dã quê mùa bạt ngàn nhiều hơn cỏ. Nó như một đặc sản của Tây Nguyên, mặc dù vùng nào trên nước ta cũng có.

 

 Ảnh: Doãn Vinh
Ảnh: Doãn Vinh

Nó dân dã đến đạm bạc, đến nhiều người không thèm cả biết tên nó, cứ hoa dại mà gọi.

Nhưng nó lại rất hiện nhiên tồn tại, như khép nép mà lại như ngạo nghễ, như cố thu mình lại mà lại cứ buông thả lan xa. Những cơn gió vồng lên, những thảm xuyến chi bết lại nhau, hoa díu vào hoa, lá díu vào lá và cái nhụy vàng, mỏng manh đến cứ rưng rưng trước gió, hóa ra lại rất can trường.

Và khác dã quỳ, hoa xuyến chi cắm vào lọ gốm rất đẹp. Dã quỳ chỉ đẹp khi nó nguyên từng thảm thế, khi nó ràm rạp trước gió trước nắng thế, chứ hái cắm vào lọ là xấu hẳn. Xuyến chi lại tinh khôi hơn khi ngự trong một cái bình, mà đẹp nhất là gốm.

Những buổi chiều hoang dại, những buổi chiều đầy gió, gió lan như lửa, gió bốc như xăng, gió cuồng nộ như sóng biển. Hãy đi ngược gió, hái những ngọn xuyến chi cao nhất, cánh trắng đều nhất, thả vào lọ gốm. Sự thanh bình lập tức đến ngay trong ngôi nhà, sự im lặng ngự trị, sự tinh khiết cao thượng lên ngôi, dẫu ngoài kia, chiều vẫn gió.

Tôi lại cũng nhớ những cơn gió khi lên các đồn biên phòng từ Đức Cơ đến Chư Prông, Ia Grai. Nhớ những giò lan đung đưa trong gió bung hoa tỏa hương làm đêm như huyền ảo hơn, lung linh hơn, thi vị hơn, dù quả là, nếu không quen sẽ “buồn như chấu cắn”. Những cơn gió xuyên qua cơn đói, xuyên qua giấc ngủ, xuyên qua nỗi buồn nỗi nhớ, hay chính xác hơn, làm bạn với nỗi buồn, nỗi nhớ… lúc này, gió không còn là gió, nó là linh hồn, là sẻ chia, là miên man ký ức…

Làng, những ngôi làng Tây Nguyên hiền hòa trước gió. Trong tôi đậm đặc nhất là cái làng Bông, ngôi làng của họa sĩ Xu Man. Ông đã về đây sống những ngày cuối đời và rồi mất ở đấy, nhập đất mẹ ở đấy…

Nhà sàn Bahnar nhỏ và mềm mại. Nhà rông cũng thế. Cái hay của những ngôi nhà của người Tây Nguyên là để tồn tại trước những cơn gió lồng lộn như ngựa hoang trên thảo nguyên kia, người ta không tìm cách chống nó, mà nghĩ ra cách tồn tại. Ấy là dùng sự uyển chuyển đối với sự cứng cáp, dùng mềm mại đối với thẳng căng, dùng chậm đối với nhanh, dùng tù đối với nhọn, dùng hiền hòa đối với hung hãn… Điều ấy lý giải vì sao những ngôi nhà rông đồ sộ thế, luôn ở vị trí cao nhất làng, mà làng thì hay được lập trên những sườn đồi… lại có thể tồn tại trước những cơn gió suốt ngày quần thảo, những cơn gió có thể càn lướt cuốn phăng những gì chúng gặp trên đường. Những ai từng ở Tây Nguyên mùa khô đều từng chứng kiến những cơn gió như thế… Trước sự cong mềm tinh tế trữ tình, sự khiêm nhường duyên dáng, sự nhu một cách cố tình, của ý đồ con người, những con người tài hoa chỉ bằng kinh nghiệm sống và sự tôn trọng tự nhiên đã biết hòa đồng với tự nhiên, với gió, để những cơn bão gió trở thành mơn man the thẩy, tôn thêm vẻ đẹp của những ngôi làng Tây Nguyên vốn đã rất đẹp khi nó chênh vênh trong chiều, trên sườn đồi, những chiều lãng đãng sương hoặc đêm trăng lạnh…

Tôi từng gặp những cơn gió thổi rung bần bật cái cầu treo vào khu căn cứ cũ ở rừng Kbang. Nương theo gió, tôi gặp tiền nhân. Ở đó, một chiến khu kháng chiến, một thị trấn kháng chiến hiện hình. Này là căng tin, này là phòng họp, này là hầm ngủ, này là trạm y tế… cả một xã hội thu nhỏ, một góc chiến tranh, một giấc mơ hòa bình. Bao nhiêu thời gian, bao nhiêu tuổi trẻ đã lặng lẽ trôi qua ở nơi này. Tôi đọc được ở đây một nghị lực sống, một niềm tin từ cái nơi rất dễ khiến cho con người thiếu niềm tin. Hình như ở những góc hầm con gái, đường cong như mượt hơn, cỏ như xanh hơn và gió cũng mơn man hơn… Bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu khát khao, bao nhiêu thầm kín, bao nhiêu tiếng thở dài, của đêm, của thời gian, của tuổi thanh xuân… đã từng ngậm nghịu nơi này.

Gió là nhân chứng. Và đấy là nhân chứng biết tôn trọng bí mật nhưng cũng biết hé lộ các bí mật.

Tết ở Tây Nguyên là mùa gió lên. Những cơn gió không vô hồn dù chúng có vẻ vô hồn. Nó vừa là ký ức, vừa là hiện tại đồng thời có cả tính dự báo. Những cơn gió Tây Nguyên, mùa gió Tây Nguyên, vì thế, song hành với Tây Nguyên, song hành với mùa Xuân, trong hành trình bất tận đi tới và vươn lên, hành trình hướng về phía sáng, phía của tương lai và cái đẹp…

 Tùy bút  Hoàng Hương Giang

.
.
.
.