.
.

Vốn Trung Quốc vào Việt Nam không nhiều như ta tưởng?

Thứ Ba, 23/07/2019, 08:05 [GMT+7]
.
Báo cáo “vốn đầu tư Trung Quốc tại Việt Nam” do Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) công bố cho thấy Trung Quốc không chiếm ưu thế đáng kể nào so với các nước khác trong việc xuất khẩu vốn vào Việt Nam.
 
 
 
Vốn Trung Quốc vào Việt Nam có quá nhiều?
 
Trung Quốc chưa phải tay chơi lớn ở Việt Nam
 
Theo báo cáo của VEPR, năm 2017, tổng vốn đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc đạt khoảng 160 tỷ USD, riêng châu Á chiếm 69,5%.
 
Châu Á là địa bàn chính của Trung Quốc khi luôn chiếm tỷ trọng từ 66% – 74% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài của quốc gia này.
 
Tuy nhiên, ở châu Á, vốn đầu tư của Trung Quốc lại chảy nhiều nhất vào Hong Kong, tiếp theo là Singapore, Indonesia, Hàn Quốc… Việt Nam chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong dòng vốn này.
 
Xem xét ở góc độ vốn Trung Quốc (gồm cả Hong Kong, Ma Cao) vào ASEAN (trừ Singapore), báo cáo chỉ ra vốn Trung Quốc vào khu vực này không chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc. Cụ thể, năm 2017, ASEAN chỉ chiếm 21,4% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc. Tỷ lệ này ở giai đoạn 2010 – 2016 lần lượt là 18,8%, 12,4%, 26,7%, 21,9%, 9,8% và 17,2%.
 
Trong khu vực ASEAN, vốn Trung Quốc lại ưu tiên hướng tới các nước như Malaysia (2016 đạt hơn 4,8 tỷ USD, 2017 đạt hơn 3,3 tỷ USD), Indonesia (2016 đạt khoảng 2 tỷ USD, năm 2017 đạt khoảng 2,5 tỷ USD), Thái Lan (năm 2016 đạt khoảng 2,4 tỷ USD) rồi mới đến Việt Nam (2016 đạt 1,8 tỷ USD, 2017 đạt 1,3 tỷ USD).
 
 
FDI của Trung Quốc vào ASEAN giai đoạn 2010 - 2017
 
Xét theo lĩnh vực rót vốn, vốn Trung Quốc vào Việt Nam năm 2016 tập trung ở các ngành: dệt may (3,1 tỷ usd), bất động sản (2,3 tỷ usd), sản xuất kim loại (1,4 tỷ usd), khai khoáng (1,03 tỷ usd), xử lý gỗ (664 triệu usd), chế biến thực phẩm (509 tỷ usd), thiết bị điện (310 triệu usd)…
 
Như vậy có thể thấy các khoản đầu tư của Trung Quốc chưa phải là quá lớn và không thể lũng đoạn thị trường Việt Nam.
 
Hàn Quốc mới là “ông trùm”
 
Xem xét mối tương quan giữa vốn Trung Quốc vào ASEAN so với tổng vốn FDI vào ASEAN, báo cáo của VEPR chỉ ra vốn Trung Quốc chiếm tỷ trọng cao hơn các nước/vùng lãnh thổ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan nhưng không quá lớn (năm 2016, vốn Trung Quốc chiếm 16,3%, năm 2017 chiếm 14,1%). Dù vậy, điều đáng chú ý là vốn Trung Quốc vào ASEAn đã tăng gấp 2,4 lần trong giai đoạn 2010 – 2017.
 
Xét riêng dòng vốn của nhóm nước Đông Bắc Á vào ASEAN, có thể thấy sự phân hóa khá rõ ràng: trong khi vốn Nhật Bản đổ rất mạnh vào Indonesia, Thái Lan, Malaysia thì ở Việt Nam, vốn Hàn Quốc chiếm ưu thế.
 
Tính tỷ trọng dòng vốn FDI đổ vào Việt Nam so với tổng dòng vốn chảy vào ASEAN, có thể thấy sự tăng trưởng rõ rệt của dòng vốn Hàn Quốc, từ khoảng 30% (năm 2010) lên khoảng 67% (năm 2017).
 
Sự “bá đạo” của dòng vốn Hàn Quốc cũng thể hiện ở số dự án của quốc gia này ở Việt Nam đã tăng mạnh trong giai đoạn 2012 – 2018, từ khoảng 3.200 dự án lên khoảng 7.500 dự án. Để so sánh, tại năm 2018, số dự án của Nhật chỉ khoảng 4.000, của Trung Quốc khoảng 3.800, của Đài Loan khoảng 2.700 còn của Singapore khoảng 2.100.
 
Tổng mức vốn FDI đăng ký hàng năm, xét riêng các quốc gia Đông Bắc Á, cũng cho thấy sự vượt trội của dòng vốn Hàn Quốc. Từ năm 2012 đến năm 2018, vốn Hàn Quốc tăng gấp 2,5 lần, từ 25 tỷ USD lên khoảng 63 tỷ USD. Theo sau là Nhật Bản (năm 2018 đạt 57 tỷ USD), Singapore (năm 2018 đạt 46 tỷ USD), Trung Quốc (năm 2018 đạt 33 tỷ USD), Đài Loan (năm 2018  đạt 31 tỷ USD).
 
Hàn Quốc cũng cho thấy ưu thế của mình tại Việt Nam khi nhìn vào tổng số dự án đăng ký mới và tăng vốn giai đoạn 2012 – 2018, trong tổng số vốn đăng ký mới và tăng thêm giai đoạn 2012 – 2018.
 
 
Vốn đầu tư của các nước/vùng lãnh thổ Đông Bắc Á vào ASEAN giai đoạn 2010 - 2017
 
Tính bền vững của dòng vốn Hàn Quốc còn thể hiện ở lĩnh vực đầu tư. Năm 2016, vốn Hàn Quốc tập trung vào điện tử (13,4 tỷ usd), bất động sản (5,3 tỷ usd), sản xuất kim loại (4,7 tỷ usd),  dệt may (3,2 tỷ usd), hóa chất (2,59 tỷ usd).
 
“Nhật Bản vào Việt Nam rất sớm nhưng lại không có ý định gắn bó lâu dài với Việt Nam. Hàn Quốc thì khác, họ đầu tư bất động sản rất mạnh. Người Hàn Quốc sang Việt Nam mua, xây dựng nhà ở cũng nhiều. Họ cho thấy ý định ở lại Việt Nam rất kiên quyết”, PGS.TS Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng VEPR, nhận định.
 
“Nhiều thứ ta đang tự thổi phồng”
 
Đánh giá về vốn đầu tư Trung Quốc tại Việt Nam, PGS.TS Nguyễn Đức Thành bình luận rằng qua những số liệu như trên, có thể thấy vốn Trung Quốc chưa có gì đặc biệt, nổi trội so với các nước có truyền thống đầu tư ở Việt Nam (như Nhật Bản, Hàn Quốc).
 
“Tôi cho rằng có nhiều thứ bị chúng ta thổi phồng, ví dụ như ta nghĩ vốn Trung Quốc vào đến nơi rồi, chiếm hết Việt Nam rồi nhưng khi kiểm tra lại không thấy”, ông nói.
 
Ông Thành nhấn mạnh cần phải có nghiên cứu, có số liệu cụ thể, phải dựa trên bằng chứng khi nhận định về vốn Trung Quốc tại Việt Nam.
 
Tuy nhiên, ông Thành thừa nhận rằng báo cáo nghiên cứu vốn Trung Quốc tại Việt Nam vẫn còn những “điểm mù”, đặc biệt là dòng vốn xâm nhập thông qua mua bán – sáp nhập doanh nghiệp rất khó bóc tách, làm rõ. Ông cũng nói các số liệu về vốn Trung Quốc không minh bạch. Đó là điều khiến ông cảm thấy “ngạc nhiên”.
 
Điều lo ngại nữa, theo ông Thành, là có tình trạng “đánh nhau” trong doanh nghiệp. “Thị trường có kiểu rỉ tai nhau rằng doanh nghiệp này, doanh nghiệp kia có vốn Trung Quốc. Tôi nghĩ cái đó chưa biết có đúng hay không nhưng trước mắt nó gây ra thiệt hại cực kì lớn cho doanh nghiệp hứng chịu tin đồn đó”.
 
Bình luận bên lề về báo cáo vốn Trung Quốc tại Việt Nam, ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương), cho rằng càng ngày Trung Quốc sẽ càng đầu tư ra nước ngoài nhiều.
 
“Trung Quốc muốn tạo ảnh hưởng. Việt Nam sẽ phải nâng cao năng lực, tinh thần trách nhiệm khi lựa chọn dự án, nhà thầu, công nghệ. Ta cứ ham rẻ mà thực chất có rẻ đâu, như dự án Cát Linh – Hà Đông đó”, ông Tuyển nói.
 
Xuân Hải (VNF)
 
.