.
.

Gia Lai: Ứng dụng công nghệ sinh học để nhân giống cây dược liệu

Thứ Năm, 06/09/2018, 16:04 [GMT+7]
.
(GLO)- Sau thời gian ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô tế bào thực vật trong việc nhân giống một số loại lan cảnh có giá trị kinh tế và cây dược liệu, Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ Khoa học và Công nghệ (Sở Khoa học và Công nghệ Gia Lai) bước đầu đã làm chủ được quy trình sản xuất và sẵn sàng cung cấp giống cho thị trường.
 
 
Theo kỹ sư Trần Thị Thúy-cán bộ Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ Khoa học và công nghệ: Phòng nuôi cấy mô tế bào thực vật được hình thành từ năm 2017 nhằm điều tra, đánh giá hiện trạng một số loại lan cảnh có giá trị kinh tế và cây dược liệu để đưa vào danh sách nhân giống, bảo tồn, phát triển trên địa bàn tỉnh. Sau gần 1 năm nghiên cứu, thử nghiệm, đến nay, Trung tâm đã thu được một số kết quả nhất định.
 
  Quy trình từ khi bắt đầu vô mẫu đến khi đưa cây con ra ngoài vườn ươm sẽ mất khoảng 8 tháng đến một năm.                                     Ảnh: Trần Dung
Quy trình từ khi bắt đầu vô mẫu đến khi đưa cây con ra ngoài vườn ươm sẽ mất khoảng 8 tháng đến một năm. Ảnh: Trần Dung
 
“Phương pháp nhân giống bằng công nghệ nuôi cấy mô tế bào thực vật (in-vitro) rất ưu việt, mở ra hướng đi mới trong việc tạo ra nguồn giống cây sạch bệnh, rút ngắn thời gian sản xuất, tạo ra được số lượng lớn cây giống đồng nhất, có sức kháng bệnh cao, có thể sản xuất giống nhanh, độ đồng đều cao với quy mô lớn một cách dễ dàng... Trong khi đó, phương pháp nhân giống truyền thống (giâm hom, chiết, trồng bằng hạt) có nhiều hạn chế như: hệ số nhân giống thấp, thời gian kéo dài, tỷ lệ sâu bệnh hại cao…”-kỹ sư Trần Thị Thúy lý giải.
 
Sau khi tiến hành nhân giống ở giai đoạn khử trùng, vô mẫu, các kỹ sư của Trung tâm tiếp tục tạo mô sẹo hay phôi, tái sinh, nhân nhanh cụm chồi, ra rễ và đưa cây con ra môi trường bên ngoài để hoàn thiện quy trình nhân giống các loài cây dược liệu có giá trị. Quy trình từ khi bắt đầu vô mẫu đến khi đưa cây con ra ngoài vườn ươm sẽ mất khoảng 8 tháng đến 1 năm. Để khử trùng mô thực vật, tùy thuộc vào từng loại mô mà lựa chọn loại hóa chất, nồng độ và thời gian xử lý hóa chất thích hợp. Quá trình tái sinh mẫu nuôi cấy được điều khiển chủ yếu dựa vào tỷ lệ hợp chất ngoại sinh được đưa vào môi trường nuôi cấy. Trong giai đoạn nhân nhanh chồi, phải đưa vào môi trường dinh dưỡng nhân tạo các chất điều hòa sinh trưởng, các chất bổ sung, kết hợp với các yếu tố nhiệt độ, ánh sáng thích hợp. Sau đó, việc chuyển các chồi, mầm ngủ từ môi trường nhân nhanh chồi sang môi trường ra rễ để tạo ra cây con hoàn chỉnh được các kỹ sư đặc biệt chú trọng. Đưa cây con ra vườn ươm với giá thể phù hợp là giai đoạn chuyển cây con từ trạng thái sống dị dưỡng sang sống hoàn toàn tự dưỡng, do đó phải bảo đảm các điều kiện ngoại cảnh như nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, giá thể… phù hợp để cây con đạt tỷ lệ sống cao trong vườn ươm.
 
Hiện nay, Trung tâm đã tiến hành ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô tế bào thực vật trong việc nhân giống một số loại lan cảnh có giá trị kinh tế như: hồ điệp; vô mẫu thành công lan hoàng thảo kèn, nghinh xuân và bắt đầu cấy chuyền nhân nhanh chồi cùng một số cây dược liệu như: đẳng sâm, thạch hộc tía, lan kim tuyến...     
 
Phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật đã mang lại hiệu quả cao trong sản xuất nông-lâm nghiệp; góp phần tạo nguồn vật liệu dùng để chuyển gen, nhân nuôi sinh khối tế bào, protein tái tổ hợp và ứng dụng nhiều mục đích khác. Phương pháp này cũng giúp kiểm soát được dịch bệnh cây trồng và chất lượng giống thông qua kiểm soát kiểu gen của giống trong khâu sản xuất, theo sát toàn bộ kế hoạch từ khâu nhân giống cho tới khâu thu hoạch, tạo được sự đồng nhất về giống và sản phẩm cuối cùng.
 
Trần Dung
.