.
.

Chuyện những ngày đầu sưu tầm văn hóa dân gian

Thứ Bảy, 20/11/2021, 11:39 [GMT+7]
.
(GLO)- Do công việc, tôi bắt đầu về làng tìm hiểu văn hóa dân gian của người bản địa Bahnar, Jrai nhiều dần lên từ khoảng năm 1995. Việc thâm nhập vào một cộng đồng khác, thậm chí xa lạ thì những ngờ nghệch, khờ khạo buổi ban đầu hẳn là ai cũng mắc phải. Tôi cũng không phải là một ngoại lệ.
 
Bài học tiếng đầu tiên luôn là thuộc lòng một lô tiếng lóng có phần thô tục và những câu nói lếu láo. Kiểu như, vào làng gặp người đàn ông lớn hơn mình, lẽ ra phải chào hỏi, mời thuốc tử tế thì lại được “dạy” nói lời khó nghe, mếch lòng; gặp các thanh nữ, thay vì ân cần, nhẹ nhàng (dù có giả bộ hỏi đường đi nữa) lại nói những điều mà chỉ có những kẻ tâm thần mới dám. Bài học “nội ngữ” rồi cũng qua nhanh khi sự bập bẹ chuyển dần sang… ít nói. Lạ vậy đấy, chưa biết thì miệng nói liên hồi, gặp bầu hỏi trái gì đây, thấy chuối hỏi ăn như thế nào, đụng bò, gà, heo,… đều bập bẹ hỏi thăm, không bỏ sót. Thế mà rồi khi có được chút lưng vốn ngôn từ của làng lại đâm ra lười, ngại nói, đúng hơn là chỉ nói khi thật cần. Mệt thì không hẳn nhưng có vẻ như ít nói thì “cao siêu, lung linh” hơn “đám” anh chị em mới đi làng bập bẹ tập nói tiếng địa phương… chính là mình hôm nào.
 
Ăn mặc cũng là chuyện đáng nhớ. Mấy chuyến đầu tiên, nghĩ mình cán bộ trên tỉnh xuống, phải ăn mặc đàng hoàng để đồng bào chẳng những thấy mình cũng… đàng hoàng mà còn thấy người Nhà nước chỉn chu như thế nào. Thành ra, trang phục đi làm nơi công sở thế nào thì áo quần xuống làng ăn vận y như vậy. Đầu đội mũ, tay xách cặp, trên túi găm vài ba cây bút, dưới chân dận đôi giày đen… Không ai xa lánh, nhưng người đi tìm hiểu văn hóa thành kẻ lạc lõng giữa cộng đồng. Dân làng vốn chưa hề no đủ, có thể nể cái vỏ ngoài của ông cán bộ, nhưng bà con chỉ đứng từ xa mà nhìn. Không ai hỏi mình quá hai câu, mình hỏi mọi người quá một câu, họ liền chỉ tay, bảo lên xã gặp bí thư, chủ tịch. Với cái bộ dạng ấy, leo lên nhà sàn đã khó, giày để dưới chân cầu thang bị chó tha, heo ủi đi đâu mất cũng là chuyện dở cười dở khóc không chỉ một lần.
 
Lễ đạp rìu của người Jrai ở xã Ia Piar, huyện Phú Thiện. Ảnh: Nguyễn Quang Tuệ
Lễ đạp rìu của người Jrai ở xã Ia Piar, huyện Phú Thiện. Ảnh: Nguyễn Quang Tuệ
 
Về làng mà không uống rượu, lại vẫn làm việc được, họa chỉ có trong… tưởng tượng thời ấy. Nhưng còn một sự thật khác nữa là không phải ai cũng có thể uống rượu nên món đồ uống ấy cũng là một tường thành phải vượt qua đối với kẻ tay mơ là tôi. Thường thì cả tuần bận bịu, việc về làng chỉ có thể thực hiện vào cuối tuần. Sau một hành trình xe máy khổ sở vì đường gập ghềnh, tôi thường tấp vào làng lúc chạng vạng, xin ngủ nhờ, ăn nhờ rồi chờ xem có cơ hội thì hỏi han cái gì đó về truyền thống văn hóa. Theo tục làng, một kẻ không thân sơ, lại “đột nhập” như thế thì cùng với trình chứng minh thư, phải có “lễ mọn” để ra mắt và bày tỏ nguyện vọng. Lễ mọn ấy chính là rượu. Mình mua một chai, bà con góp thêm mấy chai nữa, thế là bữa ăn khi bắt đầu chỉ với đôi ba người trong một nhà, thoáng chốc loang ra thành cuộc gặp gỡ cộng đồng. Ở đó, có đủ thứ chuyện cần cho một người chập chững đi tìm biết văn hóa dân gian bản địa. Vấn đề là bạn có còn đủ tỉnh táo, sức khỏe để đu bám, ghi nhớ rồi sau đó ghi chép lại hay không. Trong những “trận chiến” đông vui náo nhiệt ấy, tuổi trẻ đã không giúp được gì cho tôi, ngoài việc nhanh chân tìm đến một góc sàn gần nhất, kê đầu lên cặp và đánh một giấc đến sáng hôm sau.
 
Ban đầu, do không nắm được tập quán làm lụng của bà con, rất nhiều ngày tôi đã phải nằm võng một mình giữa làng vắng, không một bóng người. Muốn nấu ăn nhưng lại không dám vào bất cứ nhà ai, dù cửa chỉ khép hờ. Muốn hỏi han, bầu bạn cùng ai cũng đành chịu, vì may ra chỉ còn đôi người già ở nhà… Hóa ra, mỗi ngày, dân làng dậy sớm, nấu ăn rồi lên rẫy, tối mịt mới trở về nhà hoặc vào mùa rẫy thì mọi người ở luôn trong núi để phục vụ sản xuất, mươi ngày, nửa tháng mới trở về một lần. Thành ra, muốn tiếp cận bà con chỉ có hai cách: đi làm cùng họ hoặc chờ đến tối, may ra bà con trở về. Còn không, tốt nhất hãy chờ đến mùa nông nhàn. 
 
Mấy chuyện nhỏ lẻ ở làng mà tôi vừa kể có thể đã trở nên hài hước với nhiều bạn trẻ đã và đang theo đuổi công việc này. Ngày nay, nhiều người đã có thể phỏng vấn nghệ nhân qua video như một lẽ đương nhiên; việc hẹn hò rồi gặp gỡ cũng đã trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết, nhờ điện thoại. Đường sá thuận tiện, phương tiện giao thông đầy đủ, khoảng cách địa lý và những rào cản khác-đặc biệt là ngôn ngữ, vì giờ ai cũng đã dùng tốt tiếng Việt. Sự thuận lợi trong hoạt động này là điều có thể khẳng định.
 
Đáng tiếc chăng là môi trường sống ở các làng truyền thống đã và đang bị biến đổi dữ dội. Lớp người nắm giữ các tinh hoa của văn hóa dân tộc cũng theo đó mà thưa vắng dần. Thành ra, sẽ không hề mâu thuẫn khi nói rằng, trong cuộc sống hôm nay, công cuộc tìm tòi, chắt lọc những giá trị cốt lõi của văn hóa Tây Nguyên vẫn chưa hề mất đi tính thời sự và sự cần thiết của nó.
 
NGUYỄN QUANG TUỆ
 
.