.
.
(GLO)- Chùa Làng (hay còn gọi là chùa Lá) tại ấp Tây Sơn Nhất xưa được xem là ngôi cổ tự đầu tiên trên vùng đất Tây Sơn Thượng đạo, hình thành khoảng cuối thế kỷ XVIII, gắn với cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn lừng lẫy trong lịch sử dân tộc.
 
 
Theo TS. Nguyễn Thị Kim Vân-nguyên Giám đốc Bảo tàng tỉnh Gia Lai: “Chùa ở An Khê là thiết chế tín ngưỡng có sau đình, miếu. Trong đó, An Bình là ngôi chùa hiện diện sớm nhất trên vùng đất cửa ngõ, là nơi để người Việt theo nền văn hóa Phật giáo có chỗ tu tập. Do đó, ngôi chùa này còn có ý nghĩa quan trọng, mang văn hóa người Việt từ đồng bằng qua đèo An Khê, mở đường cho văn hóa Phật giáo tiến lên cao nguyên phía Tây”.
 
Chùa An Bình đã song hành cùng đời sống người Việt trên vùng đất Tây Sơn Thượng đạo suốt chiều dài lịch sử. Ảnh: Hoàng Ngọc
Chùa An Bình đã song hành cùng đời sống người Việt trên vùng đất Tây Sơn Thượng đạo suốt chiều dài lịch sử. Ảnh: Hoàng Ngọc

 

“Đất vua, chùa làng”
 
“Đất vua, chùa làng” là đặc trưng văn hóa của người Việt, chỉ rõ nguồn gốc, xuất xứ của một vùng đất, một địa phương. Chùa An Bình thường được người dân gọi là chùa Làng hay “An Bình cổ tự” bởi chiều dài lịch sử mà ngôi chùa này hiện diện trong đời sống tinh thần của người dân.
 
Trong “Lược sử các chùa, tịnh xá tỉnh Gia Lai”, Hòa thượng Thích Giác Hiền xếp chùa An Bình vào hàng ngôi chùa có mặt sớm nhất ở vùng đất An Khê. Đại đức Thích Nhật Quảng-Trụ trì chùa An Bình-cho biết: “Chùa nguyên bản là nhà tranh vách đất như một thảo am nhỏ, nhưng sau những lần di chuyển vị trí bởi hỏa hoạn và chiến tranh, diện mạo chùa cổ gần như được thay mới. Công cuộc tái thiết chùa bắt đầu từ năm 1966 bằng vật liệu kiên cố, do nhóm thợ nước mặn từ Bình Định lên đảm nhiệm. Đây cũng là nhóm thợ trùng tu đình Tân Lai (di tích cấp tỉnh) do đó vẫn giữ được nét cổ mặc trong đường nét kiến trúc. Đặc trưng là cổng tam quan gần giống với cổng đình Tân Lai, nhưng đáng tiếc là mưa gió thời gian bào mòn, tam quan sau đó đổ sập và chùa đã xây lại cổng mới”.
 
Sau khi trùng tu, chùa vẫn giữ nguyên dáng vẻ với tường xây, ngói vảy trang nghiêm, thanh tịnh. Mặt trước chùa hướng Tây giáp sông Ba, phía sau giáp đình trong (An Khê đình). So với khi mới lập, khuôn viên chùa dần thu hẹp và nay chỉ còn 5.600 m2, nằm an tĩnh trong khu dân cư. Nhưng đúng như tên gọi, ngôi chùa hình thành hơn 200 năm trên vùng đất Tây Sơn Thượng đạo như một chốn tìm về bình an.
 
Nhiều văn đối cả chữ Hán và Quốc ngữ nói về đạo pháp và địa danh chùa vẫn còn. Trước chùa có câu “An nước, an dân, cỏ cây xuân về nhờ mưa pháp/Bình tâm, bình thế, non sông như cũ thoảng hương từ” hay “An trụ chơn tâm, vạn vật núi sông thêm sắc mới/Bình như định huệ, đẹp xinh chùa cổ rạng danh xưa” (có nhà nghiên cứu từng nhận định câu đối này là một ẩn dụ đẹp đẽ về công lao to lớn của Vua Quang Trung, đồng thời, cho thấy mối tương quan giữa chùa Làng với buổi đầu hình thành của một triều đại vàng son trong lịch sử dân tộc).
 
Giá trị văn hóa, lịch sử
 
Không chỉ mang giá trị lịch sử, văn hóa, chùa An Bình còn lưu giữ những hiện vật vô cùng quý giá có niên đại hàng trăm năm. Đó là 2 tượng hộ pháp và 1 tượng chân dung đức Phật ngồi kiết già bằng chất liệu đồng, đều có kích thước khá nhỏ.
 
Ngoài ra còn có chiếc chuông đúc bằng đồng đen với kích thước nhỏ, chỉ cao 56 cm và đường kính đáy 32 cm, có dòng chữ khắc nổi dọc thân chuông ghi rõ năm Nhâm Thìn niên hiệu Trung Nguyên để người đời sau có thêm thông tin về chùa Làng. Quai chuông hình rồng uốn cong rất sống động. Chuông được treo trong chánh điện. Đây cũng là một trong những di vật cổ còn lại của chùa An Bình. Trải qua bao dâu bể thời gian, những cuộc binh đao và chiến tranh loạn lạc, các di vật quý của chùa Làng vẫn được gìn giữ nguyên vẹn.
 
Nhiều di vật quý của chùa Làng được gìn giữ đến hôm nay. Ảnh: Hoàng Ngọc
Nhiều di vật quý của chùa Làng được gìn giữ đến hôm nay. Ảnh: Hoàng Ngọc

 

Ngoài ra, Đại đức Thích Nhật Quảng còn giới thiệu bức tượng Đức Phật A Di Đà ngồi bằng chất liệu đất nung sống vô cùng độc đáo, màu sắc rực rỡ. Đại đức cho biết: “Đây là nghệ thuật gốm sống đỉnh cao của người Chăm. Trước và sau khi nung vẫn giữ nguyên màu sắc tươi tắn, nguyên bản theo ý đồ của nghệ nhân mà không bị chuyển màu như thường thấy”.
 
So với những công trình kiến trúc tôn giáo đồ sộ ra đời ở những thế kỷ sau, chùa An Bình vẫn giữ nguyên sự mộc mạc, đơn sơ của một ngôi chùa làng. Nhưng giá trị của cổ tự ở chỗ ý nghĩa văn hóa, lịch sử hình thành gắn với triều đại Tây Sơn vàng son một thuở. Và hàm chứa căn nguyên của việc tu hành trong đạo Phật rất giản dị và gần gũi với đời sống mà bất cứ ai cũng có thể hướng đến, thực hành trong cuộc sống thường ngày. Tiếc là cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu sâu và đầy đủ về vai trò, vị trí của ngôi cổ tự này.
 
HOÀNG NGỌC
 
.