.

(GLO)- Người Jrai ngày trước gắn bó với cái chày, cái cối như gắn bó với người thân của mình. Cái chày tiếng Jrai gọi là hlâo, cái cối gọi là rơsung. Ngày mà con người cộng sinh với sử thi thì làm gì có máy xay, máy xát. Người Jrai lại sống theo chế độ tự cấp, tự túc, việc gì cũng tự làm lấy chẳng thuê mướn ai bao giờ. Vì vậy, hạt thóc, hạt bắp trên nương thu hoạch về đều đi qua miệng cối để trở thành thức ăn nuôi sống con người.

Cái cối Jrai là cối gỗ  làm từ cây tơnung, còn gọi là cây lộc vừng cạn. Lá cây  tơnung giống lá bàng, búp lá ăn có vị chát. Khi một người đốn được cây lộc vừng thì cả làng đến xin mỗi người một khúc đủ để làm cối, không có một khúc gỗ nào bị bỏ phí. Gỗ cây tơnung khi còn tươi thì rất dẻo nhưng khi khô đã rắn như đá. Khi chế tác cối, người ta cắt lấy một khúc gỗ vừa cao bằng tầm cối rồi dùng rìu đẽo vào ruột gỗ. Cối không thể đẽo một lần mà được. Sau mỗi lần đẽo, người ta lại bỏ vào miệng cối một ít than củi, đang đượm lửa hoặc chưa đốt rồi dùng ống lồ ô dài chừng một khuỷu tay thổi vào than thúc cho than đỏ rực trong lòng cối. Người chế tác cối cứ đục rồi lại đốt nhiều lần như thế đến khi có độ sâu ưng ý thì thôi.

Độ sâu của chiếc cối chỉ hơn một gang tay, nhưng qua năm tháng thì sâu dần và có trường hợp sâu đến thủng lòng cối. Với chiếc cối bị thủng, nhiều nhà không chịu vứt bỏ mà tìm cách đắp lại. Họ lại kiếm súc gỗ nhỏ chêm vào chỗ thủng rồi lại dùng rìu, dùng lửa tạo ra lòng cối mới. Thế mới biết người Jrai khéo tay và tiết kiệm như thế nào. Theo phong tục Jrai, cối là vật thiêng phải được giữ gìn cẩn thận, giã xong úp ngay miệng cối xuống sàn nhà. Người Jrai tối kỵ ngồi lên miệng cối. Còn chày sau khi giã xong, không bao giờ được để dựng đứng mà phải xếp ngay lên giá đặt trước và song song với hiên nhà.

Chày giã làm bằng gỗ cây kơnia hoặc cây hương, ưu điểm của các cây này là trọng lượng riêng rất nặng, kể cả khi đã khô kiệt. Chày dựng đứng cao hơn đầu người, thuôn tròn như bắp chân.

Một nhà người Jrai thường có hai loại cối. Loại cối lòng sâu hẹp dùng để giã thóc. Loại cối lòng nông và rộng dùng để giã bắp. Chày dùng chung cho cả hai loại cối. Chẳng nhà nào có hai bộ chày bao giờ. Người Jrai chỉ chú ý đến độ tầy, nhọn của chày mà thôi. Khi giã thóc, ở công đoạn trật vỏ trấu, thì dùng đầu nhọn, ở công đoạn giã cho sạch cám thì dùng đầu to. Còn giã bắp thì chỉ dùng đầu nhỏ. Với hạt bắp quá cứng thì được ngâm qua nước cho mềm trước khi đổ vào cối.

Khi giã, hai hay ba người hai tay nắm chặt eo chày, đứng quay mặt vào nhau mà nện chày xuống lòng cối. Có thể nói thêm rằng, chày của người Jrai lúc mới chế tác không làm thắt eo như chày của người Kinh, nhưng qua năm tháng do tay người nắm vào dần dần cũng mòn tạo thành eo. Tiếng chày Jrai thật kỳ diệu cứ nhịp đôi nhịp ba, vào ngày lễ hội còn là nhịp bốn, tụp tùm tum từ đời này qua đời khác mà không bao giờ loạn nhịp, không bao giờ nghe thấy tiếng chày va vào nhau. Người Jrai có thói quen giã gạo vào sáng sớm và những đêm trăng. Những ngày bận lên nương gieo hạt, trỉa bắp, thì ban đêm mới là thời gian giã. Vì thế, tiếng chày thường vọng về đêm. Trong đêm cao nguyên, tiếng chày không lẫn với tạp âm nên vang vọng, điềm tĩnh đến lạ thường. Có chăng chỉ có tiếng suối họa cùng. Vắng tiếng chày là làng đói. Tiếng chày là âm thanh no ấm. Tiếng chày là niềm kiêu hãnh âm thầm của nhà này với nhà khác, làng này với làng khác.

Một điều rất thú vị là theo phong tục Jrai, với việc chế tác chày cối bao giờ cũng là đàn ông còn sử dụng nó bao giờ cũng là người thuộc phái nữ. Đây là sự phân công lao động từ bao đời, ai nấy nhất nhất tuân theo. Không biết từ lúc nào, hình ảnh thiếu nữ Jrai nhịp nhàng vung chày giã gạo bên cối gỗ đã trở thành biểu tượng về con người và cuộc sống lao động cần cù, thơ mộng nơi đây. Cối chày Jrai hóa thành văn hóa làng. Tiếng chày có bao điều kỳ diệu. Nhiều khi nó đóng vai trò ông mai giúp cho bao đôi trai gái nên vợ nên chồng. Lũ con trai chưa vợ nghe tiếng chày rất tinh. Họ nghe tiếng chày mà biết người giã còn là thiếu nữ hay đã con đống, con đàn. Tiếng chày của thiếu nữ âm thanh thường gọn, nhịp nhanh đều và rắn rỏi và hình như còn có sức quyến rũ khác nữa.

Cũng rất có thể các cô gái Jrai muốn qua tiếng chày gửi đi một thông điệp về tài năng và đức siêng năng của mình đến với các chàng trai. Còn các chàng trai cứ theo lời mách bảo của cái tai mà tìm đến các nàng bên cối giã. Họ xin vào giã cùng cô gái mà mình ưng ý nhất. Họ có giã mấy đâu mà cốt để đầu mày cuối mắt. Có chàng còn cố tình để gạo trong cối bắn ra ngoài để được nghe lời trách và ngồi nhặt. Và đây chính là cái cớ để chàng trai ở lâu hơn nữa bên cối giã với người đẹp.

Bây giờ đời sống công nghiệp đã đến với từng nếp nhà Jrai. Người Jrai đã làm quen với máy xay, máy xát. Tiếng chày vì thế cứ thưa dần. Cuộc sống trôi đi như nước sông Ba, sông Ayun. Chẳng có con sóng nào quay trở lại… Nhưng rồi một ngày nào đó, có gì khơi vào nỗi nhớ, thì tiếng chày thân thuộc lại vọng về, đem đến cho những người Jrai lớn tuổi một nỗi bùi ngùi...

Đào Nam Sơn - Kpă Pual