.

Lần đầu tiên, một cuộc hội ngộ cồng chiêng lớn nhất từ trước đến nay được tổ chức ở Việt Nam, đó là Festival Cồng chiêng quốc tế năm 2009 tại Gia Lai. Trong cuộc hội ngộ hiếm hoi này, nghệ nhân và khán giả đã có dịp thưởng thức vẻ đẹp của âm thanh cồng chiêng Đông Nam Á, đồng thời suy ngẫm thêm về nhận xét rất khách quan của cố Giáo sư âm nhạc dân tộc Philippines Jose Maceda- một chuyên gia về cồng chiêng: “Cồng chiêng Tây Nguyên rất độc đáo, và vùng Tây Nguyên có thể là cái nôi của cồng chiêng Đông Nam Á”.

Độc đáo cồng chiêng Đông Nam Á

Có mặt tại Festival Cồng chiêng quốc tế năm 2009, người xem đã được mãn nhãn với một cuộc hội tụ mà qua đó những đặc trưng cốt yếu của cồng chiêng Đông Nam Á được thể hiện rõ nét. Một đặc điểm khá nổi bật là cồng chiêng tại các nước này không còn được xem như là vật thông linh giữa con người và trời đất mà đã chính thức trở thành nhạc cụ dân gian hay cung đình. Đoàn nghệ nhân đến từ nước láng giềng Campuchia đã chinh phục khán giả bằng tiếng cồng lảnh lót, trong veo như pha lê và bằng sự… lạ: Chỉ có 2 người diễn tấu với 2 dàn cồng, mỗi dàn gồm 16 chiếc cồng nhỏ xếp trên một giá sắt hình bán nguyệt. Tương tự, dàn cồng chiêng của Myanmar tuy đồ sộ hơn nhưng cũng được cố định vào những chiếc khung và giá đỡ chắc chắn, mang dáng dấp của một nhạc cụ hiện đại. Đoàn cồng chiêng Indonesia thì làm khán giả thán phục, thích thú với trên 10 nhạc cụ diễn tấu cùng với cồng chiêng như trống kendang, trống lắc rebana, đàn siter...

Đội cồng chiêng Philippines tại Festival Cồng chiêng quốc tế năm 2009. Ảnh: Phương Duyên
Đội cồng chiêng Philippines tại Festival Cồng chiêng quốc tế năm 2009. Ảnh: P.D

Tuy nhiên, phần trình diễn đầy ấn tượng của đoàn nghệ nhân đến từ miền Bắc Philippines lại là một ngoại lệ: Đó là những chàng trai mình trần đóng khố, tóc tết, cổ đeo nanh thú, đầu gắn lông chim gợi mối liên tưởng đến văn hóa của thổ dân châu Mỹ. Cả nhóm nhảy múa và trình diễn một cách cực kỳ sôi động, đầy ngẫu hứng mang đến những thanh âm cồng chiêng rộn ràng, sôi nổi. Người xem cũng dễ dàng nhận ra những điểm giống nhau trong cách phục trang, diễn tấu của đoàn nghệ nhân Lào với các nghệ nhân Tây Nguyên thông qua phần giới thiệu về phong tục tập quán, lễ hội có sử dụng cồng chiêng như ma chay, cưới hỏi, cúng người chết, cúng được mùa... Tại Hội thảo về bảo tồn Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên và Đông Nam Á trong khuôn khổ Festival, TS. Bountheng Souksavatd (Lào) đã đưa ra một đề xuất rất đáng chú ý: “Ở vùng đất phía Nam Lào chúng tôi có một vùng không gian văn hóa cồng chiêng rộng lớn có nhiều nét tương đồng và có mối liên hệ với không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Nên chăng mở rộng phạm vi Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được công nhận thành một vùng rộng lớn hơn?”.

Cồng chiêng Tây Nguyên, nơi khởi nguồn…

Đến với Festival lần này, tận thấy những màn trình diễn cồng chiêng độc đáo của mỗi nước, mỗi dân tộc, khán giả có cơ hội đối chiếu và trả lời phần nào câu hỏi: Cồng chiêng là “đặc sản” của vùng Đông Nam Á, nhưng tại sao UNESCO chỉ chọn công nhận cồng chiêng Tây Nguyên là Kiệt tác truyền khẩu và Di sản phi vật thể của nhân loại?

Không kể nét tương đồng với một số dân tộc của các quốc gia Đông Nam Á như đã nêu trên, có thể thấy tại Tây Nguyên, văn hóa cồng chiêng vẫn hiện diện đậm đặc, biểu hiện bằng những gì hoang sơ nhất, gần nhất với tự nhiên, cụ thể là “văn hóa rừng”: Những bộ áo bằng vỏ cây, thổ cẩm (nếu là thổ cẩm nguyên gốc thì được dệt bằng sợi bông và nhuộm bằng vỏ cây rừng), người rơm, mặt nạ… Vừa kết thúc phần trình diễn của đơn vị mình, nghệ nhân Kpă Pai (làng Djrết, thị trấn Nhơn Hòa, huyện Chư Sê) vui vẻ giải thích về bộ quần áo vỏ cây trên người và 2 chiếc mặt nạ gỗ đeo cả phía trước lẫn phía sau: “Hồi xưa ông bà mình không có áo mặc nên phải lấy vỏ cây để mặc. Còn mặt nạ trước và sau là để thú dữ sợ, dù gặp mình ở phía trước hay sau lưng thì nó vẫn tưởng là mình đang trước mặt nó”. Đó là cách người Tây Nguyên nương tựa vào rừng già và tồn tại thật thông minh giữa rừng già.

Chiêng Tha- một trong những dàn chiêng độc đáo nhất Tây Nguyên. Ảnh: Phương Duyên
Chiêng Tha- một trong những dàn chiêng độc đáo nhất Tây Nguyên. Ảnh: P.D

Tuy đã mất đi ít nhiều tính chất kết nối giữa con người với thần linh do sự thay đổi về tín ngưỡng, lối sống, song cồng chiêng Tây Nguyên đến nay vẫn gắn chặt với đời sống tâm linh và sinh hoạt cộng đồng từ lúc con người vừa ra đời cho đến khi mất đi. Biên chế của dàn cồng chiêng Tây Nguyên liên quan mật thiết đến tổ chức xã hội và triết lý sống: Có cồng mẹ, cồng cha, cồng cháu… chứ không sắp xếp một cách rõ ràng theo thứ tự cao độ (tương tự hình thức một cây đàn gõ ra giai điệu) như các dàn cồng chiêng Đông Nam Á khác. Lối trình diễn của người Tây Nguyên cũng rất khác, tính cộng đồng rất cao: Nhiều người cùng đánh và di chuyển vòng tròn ngược theo chiều kim đồng hồ như chiều của chim Lạc trên trống đồng, đánh dàn hàng ngang hoặc đánh 2 người (chiêng Tha của dân tộc Brâu- Kon Tum); điều này đòi hỏi mỗi người phải có nhạc cảm tinh tế để giữ một nốt khác nhau trong cả dàn chiêng. “Chỉ trừ một vài dàn cồng nhỏ như Gangsa của dân tộc Kalinga (Philippines) gồm 6 cồng phẳng, người đánh cồng di chuyển đôi chút và có những động tác gần như múa, còn thì nhạc công trong các dàn cồng lớn của Đông Nam Á đều ngồi một chỗ biểu diễn”- GS. Trần Văn Khê nhận xét. Dàn cồng Gangsa chính là dàn cồng do đoàn nghệ nhân cồng chiêng Philippines diễn tấu như đã nhắc ở trên. Ngoài ra, nếu các dàn cồng chiêng Đông Nam Á đều sử dụng dùi để đánh chiêng thì nhiều dân tộc Tây Nguyên vẫn đánh chiêng bằng cùi tay (cho âm thanh trầm hơn, tròn trịa hơn).

Trang phục bằng vỏ cây của đoàn nghệ nhân huyện Đức Cơ (Gia Lai). Ảnh: Phương Duyên
Trang phục bằng vỏ cây của đoàn nghệ nhân huyện Đức Cơ (Gia Lai). Ảnh: Phương Duyên

Có thể suy luận rằng, văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã phản ánh một xã hội ở cấp độ nguyên sơ nhất của con người mà ở đó, cồng chiêng vẫn còn giữ được những đặc điểm tương đối nguyên bản, chưa phát triển thành một nhạc cụ dân gian hay nhạc cụ cung đình như những nước Đông Nam Á khác. Nếu xem văn hóa cồng chiêng Đông Nam Á là một cây đại thụ thì văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên chính là một phần cội rễ; đó là nơi khởi nguồn, phát xuất cho mọi mạch nguồn sáng tạo.

Chính vì tính nguyên bản và cấp bách trong việc bảo tồn, lưu giữ, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là Di sản. Phát huy di sản này như thế nào, tương lai của cồng chiêng Tây Nguyên sẽ ra sao là một câu hỏi mà để trả lời phải cần thêm sự góp sức nhiệt tình của các nhà nghiên cứu, rộng hơn là của cả cộng đồngr

Phương Duyên