.
.
(GLO)- 1. Chợ làng gồm những ngôi chợ ở vùng quê, phân biệt với chợ huyện, trung tâm thương mại phố thị hay siêu thị lớn bé thường gặp bây giờ. Chợ ra đời cùng với sự hình thành làng, đáp ứng nhu cầu bán sản vật “cây nhà lá vườn” và mua thực phẩm cần thiết trong sinh hoạt thường nhật của cư dân làng.
 
 
 
Chợ làng có điểm chung là hình thành tự phát. Vị trí chợ có thể là trung tâm xóm, thuận đường người qua kẻ lại. Có thể là khoảng đất trống, dưới tán cây cổ thụ giữa làng. Có thể là sân nhà ai vì lý do nào đó nhiều người lui tới, miễn là có không gian và được gia chủ đồng ý. Từ chỗ ngẫu nhiên có bà hàng quà tiện chân ghé ngồi, có cụ già đặt chiếc rổ tre đựng mấy thức quả vườn nhà; có chị luống tuổi bày bó rau, giỏ cua, mớ tép… cứ thế đông dần người mua kẻ bán mà thành chợ lúc nào chẳng biết. Vì thế tên chợ gắn với tên địa điểm họp chợ.
 
Chợ làng nhóm họp mọi ngày trong năm, thường chỉ nhoáng một lúc buổi sáng, mặt trời lên quá con sào đã tản cho kịp buổi làm đồng, ngày lên nương rẫy. Còn lại vài cụ già cùng mớ hàng không lo bị ôi thiu: dăm gói thuốc lá, vài lít dầu ăn, mấy thức mắm khô, dăm chai mắm nước ngồi nán lại.
 
Chợ làng nhóm họp vào buổi chiều cũng chẳng kéo dài, kết thúc trước khi ngày vào tối. Nếu đem so sánh, chợ chiều chừng như buồn hơn bởi ít người mua bán, bởi nắng quái quét xuống mái nhà, ngọn cây, bởi cuối ngày mặt trời chỉ một loáng đã chìm.
 
 Chợ làng Pleiku Roh (trên đường Lê Thị Hồng Gấm, phường Yên Đổ, TP. Pleiku) nhóm họp mỗi chiều. Ảnh: Đ.P
Chợ làng Pleiku Roh (trên đường Lê Thị Hồng Gấm, phường Yên Đổ, TP. Pleiku) nhóm họp mỗi chiều. Ảnh: Đ.P
 
 
Những làng có chợ xã “đóng chân”, nhằm phiên chợ xã thì không họp chợ làng. Dễ hiểu, hoạt động bán mua hút vào chợ phiên rồi còn đâu. Thế nên chợ xã một tháng 6 phiên, chợ làng mỗi tháng bỏ 6 buổi họp chợ.
 
Chợ làng chẳng mấy nơi có mái che, sạp ngồi. Thì đã có tán cây che bóng, hiên nhà che mưa còn gì. Hàng hóa quanh đi quẩn lại cũng chỉ con cá con cua thả lưới, kéo vó, đánh giậm; mớ rau, chùm quả vườn nhà; con gà, con vịt nuôi cải thiện bữa ăn đành “nhín” phần mang ra chợ, cần gì phải sạp. Người cùng thôn làng bán mua nên thân mật chào mời, nhẹ nhàng mặc cả. Chợ làng mang theo cả đời sống và hồn làng. Khấm khá hay khó nghèo, ấm áp hay phức tạp cứ đến chợ ấy là rõ.
 
2. Từ ngày sống ở Tây Nguyên, mới biết chợ làng còn được hiểu là chợ dành cho người làng-cư dân bản địa. Những năm 1957-1958 của thế kỷ trước, thuở Trung tâm Thương mại Pleiku có tên gọi chợ Lớn đã có hẳn một dãy dài mái lợp, nền tráng xi măng cho đồng bào dân tộc thiểu số bày bán sản vật tự nuôi trồng, đánh bắt được. Không gian chợ dành cho người làng bây giờ vẫn thế, từ chợ đêm Pleiku cho đến hầu hết các chợ phường, chợ xã và cả chợ tự phát.
 
Mà quả đúng là chợ làng. Cũng chỉ rau củ quả đựng trong gùi, đôi con gà cầm tay, chậu cá đồng trước mặt hay mấy túi măng le luộc, nhúm ớt bay xanh đỏ cùng gương mặt hiền lành đến ngơ ngác cho dù họ đến từ làng trong phố. Chừng như hoạt động mua bán của họ chỉ vừa vượt qua ngưỡng trao đổi hàng hóa. Người làng làm nên chợ làng!
 
Ở Pleiku còn có những chợ làng theo nguyên nghĩa: chợ tự phát, nhóm họp vào mỗi chiều. Hàng hóa không nhiều, chủ yếu là thực phẩm dùng cho bữa cơm thường nhật. Sạp ngồi là tấm ni lông trải lên nền đất. Che mưa nắng đã có cây dù cầm tay. Không nhiều lời đon đả mời chào hay thách giá. Có khi cũng không quen với cách nói ấy.
 
Chợ làng trong phố ra đời như là nhu cầu tự nhiên việc bán mua, trao đổi của cư dân sở tại. Về sự tồn tại của chợ làng trong phố có nhiều ý kiến trái ngược nhau, người ủng hộ thì cho rằng: Chút hồn quê dung dị còn lưu lại nơi phố thị cũng đẹp chứ sao, miễn là giữ được vệ sinh, không gây mất trật tự (điều này chỉ mang tính tương đối). Nhóm khác thì lại: “Đâu rồi văn minh, trật tự, mỹ quan đô thị?”.
 
Chợ làng có gì thâm sâu hay mới mẻ đâu mà lòng tôi chợt ngân rung mỗi khi nhớ về, bất chợt gặp lại. Câu chuyện tâm thức thật khó cắt nghĩa, tuy mộc mạc nhưng đọng tâm tình. Có lẽ, nơi này tôi gặp lại tôi một thuở cùng gương mặt lam lũ, tính cách chân chất con người nhà quê.
 
 NGUYỄN ĐÌNH PHÊ
 
 
 
.