.
.

50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1969-2019):

Tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng

Thứ Tư, 15/05/2019, 06:23 [GMT+7]
.
(GLO)- Chủ tịch Hồ Chí Minh-vị lãnh tụ vĩ đại, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất đã cống hiến trọn đời cho độc lập, tự do của Tổ quốc, vì cuộc sống no ấm hạnh phúc của nhân dân. Người để lại cho Đảng ta, đất nước ta, nhân dân ta nhiều văn kiện lịch sử vô giá, trong đó có bản Di chúc thiêng liêng mà đến nay và mãi về sau, chúng ta luôn ghi nhớ, học tập và làm theo.
 
 
Trong 7 phần nội dung tư tưởng cơ bản của Di chúc với nhiều vấn đề rộng lớn, chúng tôi chỉ xin tập trung trao đổi một nội dung về công tác xây dựng Đảng và tăng cường chỉnh đốn Đảng hiện nay.
 
Trăn trở của Bác về Công tác xây dựng Đảng
 
Trong Di chúc, Bác viết: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng, một dạ, phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng ta và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.
 
Sự nghiệp cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng và trưởng thành cho đến hôm nay cho thấy rằng: Vấn đề đoàn kết trong Đảng có mối quan hệ đến sự thống nhất và vững mạnh của Đảng. Qua kinh nghiệm trong quá trình hoạt động và lãnh đạo xây dựng Đảng, lãnh đạo cách mạng, Bác biết rõ nhất chỉ có đoàn kết mới tạo sức mạnh trong Đảng, nếu mất đoàn kết là Đảng sẽ suy yếu. Chỉ có đoàn kết, Đảng mới đủ sáng suốt đề ra chủ trương, đường lối đúng đắn và đảm đương được vai trò hạt nhân chính trị, lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng. Trong thực tế, chúng ta cũng đã thấy rõ, nơi nào nội bộ mất đoàn kết thì tổ chức Đảng nơi đó suy giảm sức chiến đấu, không hoàn thành nhiệm vụ.
 
 
 
  Bác Hồ về thăm xã Nam Cường (huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình) ngày 26-3-1962. (Ảnh tư liệu)
Bác Hồ về thăm xã Nam Cường (huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình) ngày 26-3-1962. (Ảnh tư liệu)
 
 
Trong Di chúc, Bác sử dụng khái niệm “Đảng ta là một Đảng cầm quyền”. Từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta có 2 thời kỳ: Đảng lãnh đạo cách mạng nhưng chưa nắm chính quyền (thời kỳ từ năm 1930 cho đến trước Cách mạng tháng Tám 1945 thành công) và thời kỳ Đảng cầm quyền (từ sau Cách mạng tháng Tám thành công và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời-nay là Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Đảng lãnh đạo cách mạng và Đảng cầm quyền không khác nhau về bản chất: Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc.
 
Dù thời kỳ lãnh đạo cách mạng hay cầm quyền thì Đảng phải luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, nếu xa dân, không được dân ủng hộ thì sẽ thất bại và không tồn tại được. Trong thời kỳ cầm quyền, Đảng phải xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh hơn bao giờ hết, xây dựng cả về chính trị, tổ chức, tư tưởng, đạo đức, trí tuệ và năng lực để luôn ngang tầm với sự nghiệp cách mạng. Muốn xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, Bác yêu cầu: “Trong Đảng phải thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình” và “phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Đây là vấn đề rất quan trọng, tự phê bình và phê bình mà không có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau thì rất dễ dẫn đến sát phạt lẫn nhau, dẫn đến mất đoàn kết, trái với tinh thần tự phê bình và phê bình là để xây dựng cá nhân, tập thể tốt hơn, đoàn kết và tiến bộ hơn.
 
Đảng cầm quyền có sứ mệnh lãnh đạo giai cấp, dân tộc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Để hoàn thành sứ mệnh cao cả đó, Bác đòi hỏi đảng viên phải có đạo đức cách mạng. Trong Di chúc, Bác viết: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật sự trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Không phải ngẫu nhiên mà Bác dùng nhiều từ “thật” trong một mệnh đề như vậy, chắc chắn Bác đã cân nhắc rất nhiều. Thật là đối lập với giả dối. Thật là đối lập với qua loa, nửa vời, không đến nơi, đến chốn. Bác muốn nhấn mạnh ở những điều mà Bác căn dặn đối với Đảng phải quan tâm thực hiện cho tốt. Hiểu quan điểm “đầy tớ” theo Bác ở đây là: cán bộ, đảng viên là người chăm lo phục vụ nhân dân, mà phục vụ thì phải toàn tâm, toàn ý; tôn trọng, lễ phép với dân. Phải hướng dẫn nhân dân thực hiện, cái gì dân chưa rõ phải giải thích để dân thông hiểu mà thực hiện; đặc biệt là phải gương mẫu trước nhân dân mới làm tròn và xứng đáng với vai trò người lãnh đạo. Trong bản viết bổ sung tháng 5-1968, Người còn nói thêm, ngay sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi thì việc “cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”.
 
Thực hiện Di chúc của Bác, Đảng ta và nhân dân ta đã giành được nhiều thắng lợi vẻ vang: đánh cho Mỹ cút (năm 1973), đánh cho ngụy nhào, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (năm 1975). Kết quả đó thể hiện tầm tư duy chiến lược và sách lược, xứng tầm một Đảng lãnh đạo đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
 
Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng
 
 
Di chúc của Bác là tài sản vô giá của Đảng và nhân dân ta, có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn về nhiều mặt; là sự kết tinh của tinh hoa văn hóa dân tộc với tinh hoa văn hóa của nhân loại, là những chỉ dẫn quý báu, nguồn cổ vũ, động viên to lớn đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong sự nghiệp kháng chiến kiến quốc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 50 năm qua, Di chúc của Bác luôn tỏa sáng mỗi bước đường phát triển của Đảng, của đất nước, để mỗi cán bộ, đảng viên và người dân luôn thấy “Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta”.
 

50 năm qua, trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, bản chất cách mạng và khoa học, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn và ngày càng lớn mạnh. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng đã lãnh đạo đất nước vượt qua khó khăn, thách thức và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, thực hiện thắng lợi 2 nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữ vững ổn định và chính trị, phát triển kinh tế-xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tăng cường quốc phòng-an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại, nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.
 
Những năm gần đây, việc thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp về xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, XII đã nêu, đặc biệt Nghị quyết số 12-NQ/TW (Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”) và Nghị quyết số 04-NQ/TW (Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”)… đã tạo những chuyển biến tích cực trong hệ thống chính trị, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Quá trình tự phê bình và phê bình đã góp phần đấu tranh với những suy nghĩ và hành vi sai trái nhằm cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực. Nhiều vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp đã được phát hiện và tập trung chỉ đạo điều tra truy tố, xét xử nghiêm minh, công khai kết quả xử lý, tạo hiệu ứng rất tích cực, được nhân dân đồng tình ủng hộ.
 
Công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ, triệt để, có bước đi và cách làm thích hợp của Đảng mở ra từ Đại hội VI đến nay đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng không ngừng được nâng cao. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn những vấn đề cần phải được giải quyết. Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương khóa XII của Đảng đã chỉ ra: Các thế lực thù địch phản động đẩy mạnh thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc, tôn giáo”... cấu kết với các phần tử cơ hội, chống phá cách mạng ngày càng tinh vi hơn.
 
Đứng trước những vấn đề như vậy, nghiên cứu Di chúc của Bác, chúng ta tiếp tục rút ra được nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn từ những lời dạy thiết thực. Theo chúng tôi, cần tập trung vào một số giải pháp sau đây:
 
Một là, phải tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngang tầm nhiệm vụ, thực sự xem đây là nhiệm vụ then chốt. Cần tiếp tục tập trung cao độ để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt các nhiệm vụ về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) đã đề ra.
 
Hai là, không ngừng chăm lo củng cố và phát huy sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân, thực sự xem đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, là động lực chủ yếu và là nhân tố quyết định thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng để cố kết toàn dân tộc. Mọi đường lối, chính sách của Đảng phải thể hiện ý chí, nguyện vọng và quyền lợi của nhân dân, được đông đảo nhân dân tham gia bàn bạc và thực hiện. 
 
Ba là, ngày nay bối cảnh quốc tế đã khác trước rất nhiều, quan hệ giữa các quốc gia đang diễn ra trong quá trình liên kết vừa hợp tác vừa đấu tranh, đòi hỏi chúng ta phải quán triệt những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là giải quyết mọi vấn đề một cách “có lý, có tình”. Đó là giữ vững nguyên tắc đồng thời phải linh hoạt, năng động, sáng tạo phù hợp với vị trí, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước ta và tình hình khu vực, thế giới phù hợp với từng đối tác mà ta có quan hệ. Tăng cường mối quan hệ hợp tác hữu nghị truyền thống với các đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế, với nhân dân các nước đã ủng hộ chúng ta trong 2 cuộc kháng chiến chống ngoại xâm để thể hiện sự ứng xử tình nghĩa thủy chung với bạn bè quốc tế trong giai đoạn lịch sử mới. Đồng thời đẩy mạnh đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại với mọi quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển.
 ThS. PHAN THỊ NGA
 
.