.

(GLO)- Móng Cái-Vùng địa đầu đất nước nếu tính theo đường biển. Tuy nhiên nếu tính chi li hết điểm đầu tiên chấm bút vẽ hình chữ S chính là mũi Sa Vĩ nằm ngay trên bãi biển Trà Cổ cách trung tâm thành phố Móng Cái khoảng 7 km.

Lễ chào cờ ở khu công trình thông tin cổ động Sa Vĩ. Ảnh: N.N.P
Lễ chào cờ ở khu công trình thông tin cổ động Sa Vĩ. Ảnh: N.N.P

“Sa” là cát, “Vĩ” là đuôi gọi là Sa Vĩ. Mỗi khi thủy triều xuống ở đây nổi lên một doi cát dài. Nếu điểm cực bắc biên giới đất liền thuộc xã Lũng Cú (huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang) thì đường biên giới biển khơi đây chính là Sa Vĩ. Ở Sa Vĩ có cụm thông tin cổ động khá độc đáo. Công trình này bao gồm 3 phần: phần quảng trường, phần cụm công trình chính và phần nhà dịch vụ, quy tụ thành một quần thể kiến trúc đẹp, hiện đại mang đậm bản sắc dân tộc. Phía trước là khu vực quảng trường với hai hàng trụ đá mà chất liệu đá tự nhiên lấy từ vùng đất cố đô Hoa Lư (Ninh Bình). Hai hình trụ đá xếp hình bán nguyệt phía sau vững chãi, sừng sững, gợi cho chúng ta liên tưởng đến những người lính kiên trung nơi địa đầu Tổ quốc luôn ngày đêm canh giữ cho từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.
 

Mũi Sa Vĩ. Ảnh: N.N.P
Mũi Sa Vĩ. Ảnh: N.N.P

Theo các bậc tam cấp lên đỉnh cụm công trình chính được xây dựng với tám ngọn dương vút thẳng lên trời xanh cao 27 mét được đúc từ bê tông vĩnh cửu và được mạ lên một lớp kẽm trên bề mặt để có thể chống lại sự tác động của thời tiết và  môi trường khí hậu biển khắc ngiệt nơi đầu sóng ngọn gió. Để nâng đỡ những ngọn dương cao vút ấy có một  tổ hợp với thiết kế kết cấu mái cong đặt lên những trụ đỡ bê tông cốt thép được khắc họa những dáng hình chim lạc trên mặt trống đồng tạo nên một không gian uyển chuyển, sinh động và oai nghiêm hùng vỹ. Tôi có cảm giác hào khí thiêng non nước với  trầm tích văn hóa lịch sử ngàn năm như tụ về đây từ kinh đô Hoa Lư đến bóng dáng Vua Hùng Vương dựng nước.

Và ấn tượng nhất với tôi là ngay từ buổi sáng đầu tiên đặt chân lên Sa Vĩ chúng tôi đã có buổi chào cờ Tổ quốc ở ngay tại cụm công trình này do  đồng chí Phó Bí thư Thường trực tỉnh Quảng Ninh chủ trì. Cùng bài Quốc ca, tôi và bạn bè tôi đã hát bao lần sao sáng nay không thể cầm nước mắt khi nhìn lên lá cờ đỏ sao vàng Tổ quốc tung bay dưới nền trời xanh. “Trời vẫn xanh sắc xanh màu Tổ quốc” Mây mùa thu ở nơi này có gì khang khác vừa lam lũ ngổn ngang, vừa ngời ngời sắc xanh nõn, mây nõn. Một sự nõn nà thắm thiết, bịn rịn lưu luyến biết bao. Và sắc xanh màu áo linh biên phòng, sắc xanh của hàng dương Trà Cổ,  và đồng phục học sinh chấp chới khăn quàng đỏ với chúng tôi xếp thành đội ngũ hình chữ nhật. Trước mặt là hàng cây mướt xanh được cắt tỉa kỹ càng có hàng chữ vàng “Sa Vĩ-Nơi địa đầu Tổ quốc”. 

 

Đồn Biên phòng Trà Cổ. Ảnh: N.N.P
Đồn Biên phòng Trà Cổ. Ảnh: N.N.P

Nhà thơ Trần Nhuận Minh (anh ruột nhà thơ thần đồng Trần Đăng Khoa). Một người con Hải Dương đã ra vùng mỏ-vùng than vàng đen Tổ quốc gắn bó nơi này hơn 40 năm, đã  quen thuộc mọi ngõ ngách, địa chí ở cùng đất này. Thế mà ông bảo sao sáng nay chào cờ ở Sa Vĩ vẫn cứ thấy như mới lần đầu. và bất ngờ ông hỏi tôi: Cậu là người hay viết về biển, thế có biết lực lượng hải quân được thành lập lúc nào không?”. Thật bất ngờ khi nhà thơ Trần Nhuận Minh cho tôi biết một thông tin mới mẻ giọng thong thả, điềm tĩnh khúc chiết như một tham luận cô đọng trước giờ hội thảo “Chính xác hải quân (lính thủy) Việt Nam được thành lập từ năm 1288 mà vị “tư lệnh” đầu tiên là Phó  Đô tướng  Trần Khánh Dư với trận thủy chiến ở Vân Đồn tiêu diệt đội thuyền lương Trương Văn Hổ của quân Nguyên. Trần Khánh Dư được giao nhiệm vụ bảo vệ vùng đất ven biển và biển đảo chiến lược hiểm yếu vùng Đông Bắc có mũi Sa Vĩ và Trà Cỏ này. Ông tổ chức một đội  quân tình nhuệ đặt tên là “Binh hải quân” đóng tại Vân Đồn-Quảng Ninh. Đội quân thủy chiến có 30 đô,  biên chế mỗi đô 80 người lính, toàn quân có 30 chiếc thuyển, mỗi thuyền có 30 lính chèo thuyền. Khi trấn giữ Vân Đồn, người Việt ở đây làm nghề buôn bán, sinh sống ăn uống, y phục đều trông vào khách buôn phương Hán nên quần áo cũng theo phong tục người Hán. Bởi vậy  đề phòng gian tế và tự  tôn dân tộc ông hạ lệnh rằng quân đóng ở Vân Đồn là để ngăn giặc Hán nên  không được đội nón của phương Bắc mà đội nón Mã Lôi, ai trái lệnh, phạt!”.

Chúng tôi đã đến thăm đồn biên phòng Trà Cổ. Các đồng chí chỉ huy đồn cho biết ở đây có mấy dân tộc anh em cùng chung sống: Kinh, Dao, Tày, Sắn Dìu, có cả đồng bào Thiên Chúa  Giáo, có đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc. Với địa hình phức tạp như thế đồn cử 2 đồng chí trung tá biệt phái xuống tham gia phó bí thư Đảng ủy xã để trực tiếp nắm tình hình an ninh biên giới. Năm 1979 chiến sự biên giới bùng nổ, dân Trà Cổ gần như  sơ tán hết. Năm 1992 dân mới trở về dần dần xây dựng lại. Đặc trung nhất của Trà Cổ là chỉ thuần người Việt. Dường như từ xưa các cụ đã có ý thức cảnh giác để bảo vệ lãnh thổ. Vì thế chuyện từ thuở xưa có mươi hộ dân hải ngoại đến cư trú đất này, các cụ đều đưa cả về phía sau, muốn tham gia lễ hội cũng chỉ ở vai phục vụ. Đội công tác Tràng Vĩ thuộc đồn biên  phòng Trà Cổ đóng quân ngay ở sát mũi Sa Vĩ. Các anh hào hứng kể cho tôi nghe về câu chuyện khi xây dựng cột mốc 1378 khá đặc biệt này. Cột mốc chủ quyền được đặt ở đỉnh cực Đông Bắc trên mũi Sa Vĩ dấu mốc cuối cùng của tuyến biên giới Việt-Trung tính từ cột mốc số 0 trên đỉnh Khoang La San ở Ngã ba biên giới ba nước Việt-Trung-Lào. Theo thông lệ quốc tế khi biên giới đi qua sông thì phải cắm cột móc kép đồng thời cả hai nước. Mốc 1378 do Việt Nam xây dựng trên hòn Dâu Gót có nền đất yếu thủy triều lên là toàn bộ hòn chìm xuống mặt nước. Bởi thế khi xây mốc các anh phải đào sâu xuống tận từng đá gốc rồi xây bệ mốc cao hơn chục mét. Sau đó mới xây mốc trên bệ trụ để khi thủy triều lên mốc vẫn nổi cao trên mặt nước. Như thế cũng đủ thấy sự gian nan, vất vả của những người lính nơi đây khi đặt dấu mốc đầu tiên bảo vệ chủ quyền đất nước Đồn Biên phòng Trà Cổ vừa có nhiệm vụ tuần tra bảo vệ đường biên ở đất liền, vừa “trông coi” biên giới trên sông, biển nên có những khó khăn riêng, nhất là phải lệ thuộc nhiều về điều kiện khí hậu, thủy triều bất kể mưa gió, giông bão hàng đêm anh em đều tỏ chức phương tiện canh thủy triểu lên xuống để tuần tra công tác an ninh từ việc tàu cá của nước bạn sang đánh cá trên hải phận của ta, tranh chấp ngư trướng với ngư dân ta cho đến người buôn lậu qua lại nơi cửa sông Bắc Luân…

Nhà thơ Bùi Hữu Thiềm trước là phó chủ tịch Hội đồng nhân dân thàn phố Móng Cái   một người khám am hiểu vùng đất này. Tôi nhớ hôm sau lễ chào cờ ở Sa Vĩ chị Phó Chủ tịch Thường  trực Hội Nhà báo Cà Mau, người đã từng ra Trường Sa và rất say mê đề tài biển đảo đã thay bộ quần áo hàng ngày bằng bộ bà ba quàng khăn rằn và đứng khóc tức tưởi trước khi chụp ảnh ở bức phù điêu màu xanh da trời có khắc chạm câu thơ của Tố Hữu: “Từ Trà Cổ rừng dương đến Cà Mau rừng đước”. Chị ôm choàng bức phù điêu có tạc hình tàu lá dừa và thổn thức: “Tôi đã gặp đất mũi thân thương đây rồi”, chỉ thiếu chiếc thuyền ba lá vài dòng kênh rạch thì đây là là một hiện thân máu thịt của Cà Mau. Ông Bùi Hữu Thiêm cho tôi biết: Tên gọi Trà Cổ là tên ghép của hai làng Trà Phương và Cổ Trai (nay thuộc huyện Tiến Thủy-Hải Phòng) là đất phát tích nhà Mạc vào đầu thế kỷ XVI. Người  Trà Cổ có câu: “Người Trà Cổ-Tổ Đồ Sơn”.

 

Đình Trà Cổ. Ảnh: N.N.P
Đình Trà Cổ. Ảnh: N.N.P

Thấy tôi ngạc nhiên ông Thiềm  kể: ngư dân Sa Vĩ hiện là hậu duệ của những người đi biển đến từ bán đảo Đồ Sơn-Hải Phòng xưa. Đại để từ cách  đây khoảng 6 thế   kỷ một  nhóm ngư dân Đồ Sơn đi đánh cá gặp bão, ghé vào đây. Lúc ấy Trà Cổ còn là đầm bãi, đầm lầy chưa có người sinh sống. Mười hai gia đình ngư dân Đồ Sơn đã phân vân, bàn luận không biết nên về hay ở lại. Cuối cùng 6 gia đình quay về bởi bất lực trước thực tại”. 6 gia đình ở lại thì lạc quan hơn “Ở đây vui thú non tiên-Tháng ngày tôm cá lấy tiền nuôi nhau”. Và họ ở lại khai hoang, lập làng dựng nên Trà Cổ.  Người dân Sa Vĩ có một nghề truyền thống đó là cào ngao (nghêu) trên vùng biển giáp biên giới Trung Quốc với cái tên rất ngộ là “nạo vạn ”. Thường họ đi bè máy (được kết bằng tre) ra ngoài biển. Chờ nước ròng họ xuống biển với cái cào, đầu cán  có dây choàng ôm thân người rồi đi giật lùi, phát hiện có ngao thì dừng lại vớt lên. Hiểu nôm na “vạn” là dân vạn  đò, “nạo” là nạo vét. Ngoài cào ngao những người đi bắt giun đất, sá sùng cũng được gọi là “nạo vạn”…
 

Tác giả bên cột mốc Sa Vĩ. Ảnh: N.N.P
Tác giả bên cột mốc Sa Vĩ. Ảnh: N.N.P

Ở Trà Cổ có một cột mốc chủ quyền văn hóa đặc biệt đó là đình Trà Cổ. Con người ở đây luôn hứng chịu khắc nghiệt của thiên tai, cái nghèo khó của địa lý và hơn cả là hứng chịu sự va đập, xoắn vặn trực tiếp hoặc thầm lặng từ văn hóa Trung Quốc hàng ngày thâm nhập vào. Nhưng người dân ở  đây vẫn  là chủ nhân của nhiều công trình thuần Việt có giá trị. Ngôi đình Trà Cổ mặc dù được xây dựng tại vùng biên giới giáp Trung Quốc nhưng hoàn toàn mang phong cách kiến trúc Việt Nam. Mang đậm chất văn hóa người Việt, không hề lai căng pha tạp đồng hóa với kiến trúc Trung Hoa. Điều này khẳng định rằng cha ông ta ngày xưa đã rất coi trọng bản sắc văn hóa dân tộc.  Đình có niên đại từ thế kỷ 16 đến nay vẫn vẹn nguyên thờ 6 vị tiền công người Đồ Sơn (Hải Phòng) và thờ Quận He Nguyễn Hữu Cầu-một lãnh tụ nông dân khởi nghĩa thời Lê-Trịnh cũng quê Đồ Sơn. Và một điều làm tôi ngạc nhiên nơi đây chính là cảm hứng để nhạc sĩ Nguyễn Cường-một người quen gắn bó với nhịp điệu Tây Nguyên hoang dã, với nhịp “Rook” hiện đại khi ông về Sa Vĩ (Trà Cổ) đã  viết ca khúc “Mái đình làng biển” với những câu hát lúc nào cất lên ta lại thấy rưng rưng dòng máu cội nguồn chảy râm ran trong từng tế bào, huyết mạch: “Thi gan cùng tuế nguyệt- bao lâu bao lâu rồi-Mái đình xưa làng biển-Thành  thênh  thang  góc trời”. Mái đình không bao giờ cũ-Là cộc mốc văn hóa khẳng định chủ quyền văn hóa việt Nam bao đời nghiêng bóng xuống tâm hồn, tâm thức người Việt…

Nguyễn Ngọc Phú  (Ghi chép)

.