.
.
(GLO)- “Anh hỏi tôi về ngày lên đường vào Nam ấy à. Lâu rồi mà… À, tôi có câu thơ này, đọc anh nghe nhé: Nghe theo tiếng gọi non sông/Ba ngàn giáo giới điệp trùng vào Nam/Cùng bạn tại chỗ chống càn/Mở trường gieo chữ nguy nan chẳng sờn…”. Ấy là câu chuyện giữa tôi và thầy Phạm Văn Nguyên (phường Hoa Lư, TP. Pleiku), cựu giáo chức, một trong những thầy giáo miền Bắc “đi B” chi viện “con chữ” cho miền Nam nói chung, Gia Lai nói riêng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
 
 

 

Một góc huyện Kbang. (ảnh internet)
Một góc huyện Kbang. (ảnh internet)
 
Nhắc chuyện dạy và học trước ngày giải phóng ở thị trấn Dân Chủ-Khu căn cứ Krong của Tỉnh ủy Gia Lai (huyện Kbang hiện nay), thầy Phạm Văn Nguyên nhớ lại: “Đoàn chúng tôi lên đường đi B vào ngày 23-4-1972, hành quân bộ trên đường rừng Tây Trường Sơn. Ngày đi đêm nghỉ, sau 3 tháng ròng chúng tôi có mặt tại nơi đóng quân của Bộ Tư lệnh Khu 5. Tiếp đó, tôi cùng các anh Nguyễn Văn Mộc (quê Hà Nam), Đặng Hồng Phàn (quê Nam Định) và Trần Quang Nhật (quê Hà Nam, đã mất) được phân về tỉnh Gia Lai, công tác tại Ban Giáo dục tỉnh. Cá nhân tôi từ nhân viên sau đó được giao làm Phó Trưởng ban Bổ túc văn hóa của tỉnh cho đến trước ngày giải phóng”.
 
Qua hồi ức của thầy Nguyên và các cựu giáo chức kháng chiến, ngày ấy ở khu căn cứ đã có các trường để đào tạo cán bộ cho tỉnh. Tại Khu 2 (huyện Kbang hiện nay) có Trường Bổ túc Văn hóa cán bộ thành lập năm 1965, là một bộ phận của Trường Chính trị tỉnh bấy giờ; Trường Sư phạm được thành lập năm 1969; Trường Nội trú tỉnh thành lập năm 1970 và đến tháng 10-1973 thì trường phổ thông đầu tiên ở thị trấn Dân Chủ ra đời… Còn tại Khu 7 (huyện Kông Chro hiện nay), Trường Bổ túc Văn hóa cán bộ cũng đi vào hoạt động năm 1968. Ở một số huyện còn có các lớp bổ túc văn hóa để dạy chữ cho cán bộ xã và các cháu thiếu niên.
 
Chuyện dạy và học ngày ấy cũng thật… kháng chiến. Ví như, ở Trường Bổ túc Văn hóa cán bộ tại Khu 7, khóa học đầu tiên có đến trên 70 học viên đủ lứa tuổi, dân tộc, bao gồm cả người Kinh, Bahnar, Jrai và cả học viên từ Tỉnh ủy Phú Yên, Khánh Hòa gửi lên học, ngoài ra còn có các cháu là con em cán bộ tại chỗ. Giáo trình, giáo án còn thiếu thốn nhiều. Còn tại trường phổ thông đầu tiên ở thị trấn Dân Chủ, ban đầu chỉ có 2 thầy giáo cùng với 5 bộ giáo trình. Ngày ấy, cả thầy và trò đều vừa học, vừa tăng gia sản xuất để tự túc cho cuộc sống hàng ngày. Khó khổ là vậy nhưng các lớp học ngày ấy đã nâng cao văn hóa, dân trí cho đội ngũ cán bộ và nhân dân vùng giải phóng của ta, là cái nôi nuôi dưỡng bao thế hệ cán bộ chủ chốt từ trong kháng chiến và cả đến hôm nay.
 
Chuyện kể của các thầy giáo kháng chiến lúc rất vui, khi lại chùng xuống mỗi lần nhắc về những kỷ niệm thuở nào. Đó là khi các thầy giáo vừa dạy học vừa phải cõng gùi, mang súng như bao chiến sĩ tiền phương với đầy nguy hiểm và bất trắc. Đó là những lần đi gùi nhu yếu phẩm ở đồng bằng, gặp địch phục kích, lạc rừng nhưng sau đó vẫn quyết tâm bám trường, bám địa bàn. Khi đồng nghiệp sốt rét ác tính, những thầy giáo như ông Nguyên có thể chạy bộ xuyên rừng, xuyên đêm để tìm cán bộ y tế đến cứu chữa. Không chỉ dạy học, họ còn là cán bộ dân vận, vừa tuyên truyền bà con cho con em đi học vừa vận động cung cấp lương thực, thực phẩm cho cách mạng.
 
Giờ đây, các cựu giáo chức thời kháng chiến người còn, người mất. Với riêng nhà giáo Phạm Văn Nguyên, ông đã có một gia đình giáo chức các thế hệ nối tiếp, rất viên mãn. Nhìn vào những bằng khen, những giải thưởng về thơ dành cho những tác phẩm ông từng viết về Trường Sa, về khí tiết người Việt, tôi cảm phục không chỉ tính mô phạm trong ông, mà còn ở sự kiên trung, ân nghĩa. Lần ấy, ông kể lại câu chuyện trước lúc khoác ba lô đi dạy học ở chiến trường: “Biết sâu sắc hoàn cảnh của tôi đi B có mẹ già và 4 con nhỏ, ngoài chính sách chung, Huyện ủy, UBND huyện Xuân Trường (Nam Định) nơi tôi lên đường đã cấp cho mẹ tôi một cỗ áo quan (thời trước, các cụ già miền Bắc thường quan niệm: sống cái nhà, già cái mồ-N.V), phòng khi tuổi già lúc lâm chung mà người trai cả như tôi vắng nhà. Đây là ân nghĩa mà tôi ghi nhớ suốt đời”.
Quốc Ninh
.