.

Khoa học công nghệ góp phần phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Gia Lai

06:50 [GMT+7]
.

(GLO)- Những năm qua, ngành Khoa học và Công nghệ (KHCN) của tỉnh Gia Lai đã bám sát chức năng và nhiệm vụ chính trị được giao, phục vụ có hiệu quả việc phát triển kinh tế-xã hội địa phương.

Quan tâm lĩnh vực văn hóa-xã hội

Thông qua hoạt động tham mưu định hướng của Hội đồng KHCN tỉnh Gia Lai và tư vấn của các Hội đồng KHCN chuyên ngành, từ năm 2011 đến 2016, UBND tỉnh Gia Lai đã phê duyệt triển khai 66 nhiệm vụ nghiên cứu theo các nhóm ngành, lĩnh vực. Trong đó, các hoạt động nghiên cứu và triển khai đối với lĩnh vực khoa học xã hội, nhân văn đã tập trung đề xuất các giải pháp và chính sách giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội địa phương. Một số công trình nghiên cứu phục vụ cho việc hoạch định chính sách phát triển trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số như: tổ chức thực hiện chính sách dân tộc ở cơ sở, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động xóa đói giảm nghèo bền vững trong đồng bào dân tộc thiểu số, nghiên cứu các mô hình kiến trúc nhà ở phù hợp với đồng bào Bahnar, Jrai theo phân bố các nhóm dân tộc và tiểu vùng khí hậu…

 

Nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học. Ảnh: T.N
Nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học. Ảnh: T.N

Bên cạnh đó, công tác bảo tồn những giá trị văn hóa phi vật thể đối với các dân tộc bản địa trên địa bàn tỉnh cũng được chú trọng qua việc nghiên cứu sưu tầm, biên dịch và phân loại câu đố dân gian của người Jrai và Bahnar; lịch sử văn học Gia Lai từ năm 1945 đến nay; xác định thang âm điệu thức đặc trưng trong âm nhạc dân gian Jrai, Bahnar ở Gia Lai; phương pháp dạy học cồng chiêng cho học sinh Bahnar và Jrai, xác định địa danh lịch sử-văn hóa ở Gia Lai...  

Công tác nghiên cứu và triển khai các nhiệm vụ về khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật cũng được quan tâm như xây dựng bản đồ nguy cơ ngập lụt của vùng trũng thị xã Ayun Pa; thiết lập hệ thống mốc dự báo lũ lụt trong vùng và xây dựng bản đồ nguy cơ ngập lụt; ứng dụng công nghệ dự báo lũ và nguy cơ ngập lụt vùng trũng thấp các huyện hạ lưu sông Ba; ứng dụng công nghệ thông tin địa lý GIS xây dựng cơ sở dữ liệu khí tượng thủy văn, phân vùng khí hậu thủy văn tỉnh; nghiên cứu ứng phó với biến đổi khí hậu cho ngành nông nghiệp tỉnh đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030... Bên cạnh đó là việc xây dựng những giải pháp tiết kiệm điện trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, chuyển giao công nghệ xây dựng hầm Biogas bằng nhựa Composite tại các huyện của tỉnh nhằm tạo nguồn nhiên liệu mới, tiết kiệm chi phí cho nhiên liệu đốt, giải quyết ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi. Các đề tài, dự án khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghiệp đã góp phần phục vụ tích cực cho công tác quản lý, sản xuất.

 

Áp dụng tiến bộ khoa học vào chăn nuôi bò theo mô hình công nghiệp. Ảnh: T.N
Áp dụng tiến bộ khoa học vào chăn nuôi bò theo mô hình công nghiệp. Ảnh: T.N

Thúc đẩy nông-lâm nghiệp phát triển

Xuất phát từ yêu cầu phát triển của địa phương, từ năm 2011 đến 2016, đã có hàng trăm đề tài KHCN cấp tỉnh, đề tài hỗ trợ ngành, các huyện, thị xã, thành phố và dự án sản xuất thử nghiệm được triển khai thực hiện, được áp dụng vào sản xuất và đời sống. Trong đó, riêng lĩnh vực nông-lâm nghiệp đã được quan tâm đầu tư mạnh mẽ với số lượng đề tài, dự án cũng như kinh phí hàng năm chiếm gần 50% trong tổng số kinh phí sự nghiệp KHCN được cấp, góp phần chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, nâng cao hiệu quả sản xuất, thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo. Các đề tài, dự án thử nghiệm khẳng định các giống cây công nghiệp, cây lương thực, thực phẩm phù hợp với điều kiện sinh thái của tỉnh và có ưu thế lớn về năng suất, chất lượng (cà phê, hồ tiêu, lúa lai hai dòng, măng, chè, cây dược liệu, các loại hoa...). Điển hình như dự án xây dựng mô hình áp dụng tiến bộ KHCN phục vụ phát triển sản xuất hoa theo hướng công nghệ cao tại thị xã An Khê đã tận dụng nguồn lao động, làm tăng thêm thu nhập và cải thiện đời sống của người dân, từng bước đưa nghề trồng hoa chất lượng cao trở thành một nghề sản xuất hàng hóa ở địa phương và góp phần thực hiện có kết quả chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng.

Đối với giống vật nuôi, qua khảo nghiệm giống bò lai Zebu, dê Bách Thảo, heo rừng lai, bồ câu Pháp đã thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên và thổ nhưỡng, bổ sung vào danh mục giống cây trồng, vật nuôi chủ lực của tỉnh. Đồng thời, tiếp tục nghiên cứu hỗ trợ quá trình nhân nhanh tỷ lệ đàn bò lai trên tổng đàn, tuyển chọn một số giống ong ngoại chất lượng cao (như giống Đức lai Ý) phục vụ cho nhu cầu giống, cũng như nâng cao chất lượng các sản phẩm từ ong như: mật ong, phấn hoa, sữa ong chúa, sáp ong... Ngành KHCN còn triển khai nuôi thử nghiệm một số loại cá có giá trị kinh tế cao như cá tầm, cá chình, cá bống tai tượng tại Kbang, cá lăng nha đuôi đỏ tại Chư Prông, cá thác lác tại Chư Sê và Chư Prông..., giúp bà con vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn tạo thêm việc làm, mang lại lợi ích kinh tế.

 

Hướng dẫn kỹ thuật trồng bắp hiệu quả cho bà con cho nông dân. Ảnh: T.N
Hướng dẫn kỹ thuật trồng bắp hiệu quả cho bà con cho nông dân. Ảnh: T.N

Bên cạnh đó, ngành KHCN cũng đã đầu tư mạnh cho nội dung nâng cao kỹ thuật canh tác thông qua nhiều loại hình đầu tư, khắc phục tình trạng quảng canh, từng bước hướng dẫn người dân tổ chức phát triển sản xuất theo hướng VietGAP, GlobalGAP hay nông nghiệp hữu cơ, tạo thu nhập ổn định cho nông dân theo hướng phát triển nông nghiệp bền vững.

Cùng với đó, các dự án thuộc Chương trình nông thôn miền núi đã xây dựng các mô hình áp dụng tiến bộ KHCN, hướng dẫn kỹ thuật nuôi trồng nấm, sản xuất rau an toàn, ứng dụng và chuyển giao kỹ thuật nuôi ong và khai thác, chế biến mật ong xuất khẩu, sử dụng chế phẩm sinh học phòng trừ tuyến trùng và bệnh chết nhanh, chết chậm trên cây hồ tiêu…, góp phần vào quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của tỉnh nhà.

Thanh Nhật

.
Bình luận (0)
.
.