.
.

Gia Lai: Gian nan sự nghiệp trồng người ở vùng đất khó

Thứ Ba, 10/01/2012, 18:23 [GMT+7]

(GLO)- Nói như ông Nguyễn Văn Phúc- Trưởng phòng Giáo dục-Đào tạo huyện Kông Chro: “Những giáo viên được thuyên chuyển từ vùng khó khăn sang vùng thuận lợi ở huyện như đang đối mặt với những khó khăn mới, lạ lẫm hơn cả vùng cũ”. Từ những khó khăn này, hàng trăm giáo viên theo nghiệp trồng người huyện Kông Chro luôn trăn trở từng ngày…

Chuyển giáo viên từ vùng khó sang… vùng khó?

Gần 3 năm qua (từ năm học 2009-2010 đến nay), hiệu quả việc triển khai đề án thuyên chuyển giáo viên trên địa bàn huyện Kông Chro chỉ đáp ứng một phần rất nhỏ nguyện vọng của hàng trăm giáo viên. Trên thực tế, đến thời điểm này, ngành Giáo dục-Đào tạo huyện mới luân chuyển được 32 giáo viên.

Những lớp học “dã chiến” trong sự nghiệp trồng người huyện Kông Chro. Ảnh: Thanh Luận
Những lớp học “dã chiến” trong sự nghiệp trồng người huyện Kông Chro. Ảnh: Thanh Luận

Theo ông Nguyễn Văn Phúc- Trưởng phòng Giáo dục-Đào tạo huyện Kông Chro: “Trong các anh chị em giáo viên công tác trong ngành thì có nhiều giáo viên công tác lâu năm tại các xã còn gặp nhiều khó khăn như Sơ Ró, Đak Pling, Đak Sông… có nguyện vọng chuyển về công tác tại những vùng thuận lợi hơn nhằm ổn định cuộc sống gia đình. Đây là những giáo viên trong diện được thuyên chuyển theo đề án. Tuy nhiên, xét về nhiều mặt như tình hình kinh tế-xã hội, điều kiện địa lý… huyện Kông Chro còn gặp nhiều khó khăn nên hiệu quả của đề án này chưa thể đáp ứng được nguyện vọng của giáo viên”.

Hiện toàn huyện Kông Chro có 5 địa phương được xem là vùng thuận lợi là thị trấn Kông Chro, các xã Kông Yang, Ya Ma, Yang Trung và An Trung. Cũng theo ông Phúc, tại các địa phương được xem là vùng thuận lợi, các giáo viên cũng gặp không ít khó khăn.

Minh chứng cho điều này là tại xã Ya Ma, một xã được xem là vùng thuận lợi nhưng khi những giáo viên được thuyên chuyển về đây dạy học nhiều lúc còn gặp khó khăn hơn hẳn khu vực cũ khi xã Ya Ma có 9 làng là các làng Bong, Grơk 1, Grơk 2, Kơ Toh, Pơ Bắh, Lẫy, Tơ Nung 1, Tơ Nung 2 và Toong nhưng có đến 4 làng đặc biệt khó khăn (Tơ Nung 1, Tơ Nung 2, Toong, Bong) nên cuộc sống các hộ dân đồng bào Jrai ở đây còn nghèo khó nên thường quan niệm cần hạt gạo để ăn hơn cần chữ! Có lẽ vì vậy, những giáo viên được thuyên chuyển đến xã thuận lợi Ya Ma nhưng dạy học, bám bản, bám làng tại những ngôi làng đặc biệt khó khăn là một nghịch lý hiển hiện.

Những lớp học Mầm non “dã chiến”

Những giáo viên theo sự nghiệp trồng người ở huyện Kông Chro còn đối mặt với tình hình khó khăn về cơ sở vật chất, đặc biệt là thiếu lớp học. Năm học 2011-2012, riêng bậc học Mầm non toàn huyện Krông Chro có 2.716 học sinh, trong đó học sinh người đồng bào DTTS là 1.733 em, chiếm 64% nhưng hiện đang thiếu hơn 60 phòng học.

Giáo viên bám bản, bám làng. Ảnh: Thanh Luận
Giáo viên bám bản, bám làng. Ảnh: Thanh Luận

Theo ông Nguyễn Văn Phúc, để khắc phục tình hình, bên cạnh việc mượn phòng học của các Trường cấp Tiểu học, Trung học Cơ sở, phòng Giáo dục-Đào tạo phối hợp với chính quyền địa phương, vận động các già làng để mượn nhà sinh hoạt cộng đồng, nhà Rông… để mở lớp.

Tuy nhiên, vào các ngày lễ hội của buôn làng hay buôn làng có việc, các phòng học Mầm non mượn này phải trả lại cho làng và lớp học bị gián đoạn trong vài ngày.

Khi tiếng Việt tương đương… ngoại ngữ?

Cũng như các địa phương khác tại Tây Nguyên, ngành Giáo dục-Đào tạo huyện Kông Chro cũng đối mặt với khó khăn lớn khi hàng nghìn học sinh đến tuổi đi học người đồng bào DTTS thiếu vốn Tiếng Việt, thậm chí có nhiều em còn không biết khi mà cuộc sống quẩn quanh các buôn làng nên điều kiện được giao tiếp bằng tiếng phổ thông rất ít. Hệ lụy của vấn đề này là học sinh không biết điều giáo viên dạy nên gây ra tình trạng học sinh chán nản, bỏ học sau một vài ngày đi học.


Phòng Giáo dục-Đào tạo huyện Kông Chro khuyến khích 135 giáo viên cấp Mầm non tranh thủ thời gian, điều kiện có thể tự tạo ra môi trường giao tiếp bằng tiếng phổ thông nhằm dần từng bước giúp các em học sinh Mầm non từ từ kiện toàn vốn tiếng Việt ít ỏi của mình trước khi bước vào lớp 1.

Ngoài việc khuyến khích giáo viên tự tạo các môi trường giao tiếp tiếng Việt cho học sinh cả trong giờ lên lớp lẫn trong sinh hoạt thường nhật, phòng Giáo dục-Đào tạo huyện Kông Chro còn bố trí những giáo viên là người đồng bào DTTS vừa truyền đạt kiến thức vừa tăng cường trao đổi, giao tiếp, trau dồi tiếng Việt cho học sinh. Đây được xem là nỗ lực phát huy khá tốt hiệu quả. Tuy nhiên, phương án này gặp khó khăn khi nhiều giáo viên người đồng bào DTTS địa phương chưa đạt chuẩn. Chính vì vậy, cùng nỗ lực vận động học sinh đến lớp đều đặn thì phòng Giáo dục-Đào tạo huyện Kông Chro tạo điều kiện bồi dưỡng kiến thức, đào tạo bổ sung và từng bước chuẩn hoá đội ngũ giáo viên.

Thanh Luận

.
.
.
.