.

(GLO)- Nếu như không nhuận thì đúng ngày mùng một Tết năm nay tôi đã đón Tết giữa dòng sông Lô.

Giờ sống ở phương Nam nhưng ký ức tôi toàn xứ Bắc, trong đấy thú nhất là được hưởng cái lạnh xứ Bắc. Huế quê tôi cũng lạnh, thậm chí rất lạnh. Pleiku nơi tôi đang sống cũng là xứ... không nóng. Nhưng tôi vẫn luôn hoài cảm cái lạnh xứ Bắc. Nó trĩu trong tôi một thời đói khổ với tuổi thơ cắt ruột. Những bạn cấp II của tôi, cái tuổi bắt đầu biết rung động, biết cảm giác da thịt co ro trong cái màu trời xám xịt, mưa phùn và gió, và bờ đê. Những cái áo gụ cổ tròn với vài ba lớp áo không đủ chống chọi với cái lạnh. Bờ đê đầy gió, mặt sông đầy sóng và cỏ may thì díu vào ống quần đen, những cặp môi tím lại, răng lập cập. Chúng tôi co ro đi ngược gió.

 

Tác giả cùng nhà văn Hà Phạm Phú bên dòng sông Lô. Ảnh: H.H.G
Tác giả cùng nhà văn Hà Phạm Phú bên dòng sông Lô. Ảnh: H.H.G

Sau này mỗi người mỗi ngả, nhưng cái đụng chạm trai gái lần đầu tiên của tôi là vào mùa đông cắt ruột ấy, là cái buổi chiều xám màu chì ấy, là tơi bời gió ấy và sương mù khiến tóc đứa nào cũng như muối rắc. Chỉ là cái tổ kiến, tôi đốt lên rồi trao cho em cầm để vừa đi vừa sưởi. Giờ có ai còn nhớ những cái tổ kiến đen trên cây không, bẻ lấy, có cả một đoạn cây để cầm, rồi đốt, quay cho kiến rơi hết đi kẻo nó rơi vào người, vài đứa một cành cây tổ kiến như thế chống lại mùa đông xứ Bắc. Khi trao cho người bạn gái cành cây tổ kiến, tay chúng tôi vô tình chạm nhau. Và, đấy là lúc đất như sụt. Đấy là lúc trời như nổi sét. Là lúc chúng tôi cùng run, cái run rất lạ, hoàn toàn không phải do lạnh. Thì chỉ biết đến thế. Sau đấy tôi lên cấp III và em đi bộ đội...

Rét khác lạnh, là tôi quan niệm thế. Pleiku, Đà Lạt, Huế, Măng Đen là lạnh, nó tràn đều, nó hạ nhiệt một cách cơ học, nó chỉ là nhiệt độ thấp. Còn rét, nó hun hút, nhoi nhói, nó thắc thỏm trong những cơn lạnh. Nó như nỗi nhớ, cứ thường trực đâu đó, đầy ấn tượng muốn vỡ òa mà không nói ra được. Rét ngọt là thế. Không có lạnh ngọt, chỉ có rét ngọt mà thôi. Và rét, nó mang cảm xúc nhân sinh.

Và năm nay, tôi lại ra với miền Bắc rét như thế.
Và làm một cú sông Lô ngoạn mục.

Bạn bè vẽ ra nhiều địa danh để tôi chọn. Thì năm nào cuối năm tôi cũng cố một cú ra Hà Nội, rồi từ đấy mà về một tỉnh của đồng bằng Bắc bộ mà hưởng rét, mà hưởng cảm giác trở về, nhâm nhi ký ức và nhâm nhi chính mình. Đang phân vân vì thời gian không nhiều thì nhà văn Hà Phạm Phú xuất hiện. Ông nhà văn U80 này là một tay lái lụa và là người rất chiều tôi, muốn đi đâu làm gì ông đều chiều. Ông thủng thẳng: “Vẫn yêu sông Lô chứ. Thế tại sao không mần một cú Vĩnh Phúc, về thăm ngôi bảo tháp Bình Sơn có đến hơn 700 năm tuổi, từ thời Lý Trần. Rồi dọc sông Lô một cú?”.

Ôi giời, nghe phát sướng ngay, kế hoạch được thông qua, không lăn tăn, không suy nghĩ.

Phải ra miền Bắc mới biết thế nào là đê và ngắm đê thì đẹp nhất là vào... mùa đông. Chỗ đẹp nhất của các con sông là các bến đò và chợ. Thường ở 2 nơi ấy cùng có những cây gạo. Mùa hè rừng rực đỏ, nó níu hồn người ở lại dù người đã sang sông, níu tâm trí những kẻ xa quê cứ đau đáu mà trở về mỗi khi có dịp. Triền sông Lô tôi đi hôm ấy đã... không còn những thứ ấy. Loi thoi những cây xoan be bé nhưng trĩu quả. Có lần tôi tả Tết gắn với hoa xoan thì bị bạn bè cười khẩy, ông đi xa quên hết rồi. Hoa xoan phải tháng 3 nhé. Giờ mục sở thị thì xoan đang lủng lẳng trái. Thanh Vĩnh bảo, quà Tết của chim đấy. Tết chim về ăn quả xoan, ăn kỳ hết để tháng 3 hoa xoan nở, nở tơi bời, nở như nếu không sẽ không còn dịp nữa. Tím rịm hết từ triền đê đến bờ rào, từ ngõ nhỏ đến đường cái quan, từ mắt thiếu nữ đến cái vai áo gụ một thời cứ ánh lên trong mắt gã trai mới lớn là tôi.

Trên xe tôi im lặng nghe nhà văn Hà Phạm Phú giới thiệu vùng đất này. Nhà văn Hà Phạm Phú quê gốc ở đây và ông kể tên một loạt nhà văn Việt Nam hiện đại quê Vĩnh Phúc với một giọng đầy tự hào. Cũng như thế là một loạt tên cổ của các làng mà chúng tôi đang đi qua như: kẻ Then, kẻ Đọ, kẻ Trẽ (hay Chẽ), Tứ Yên. Đó là nơi thế kỷ thứ VI Lý Nam Đế dựng thành đánh giặc Lương, nổi tiếng với trận hồ Điển Triệt, với Đồi Ông Lãnh, hóc Áo Trôi, với thất Phù gồm: Phù Lánh, Phù Chè, Phù Giai, Phù Gầm, bến Bêu, đồng Bịch. Hồ Điển Triệt còn có tên nôm là Đầm Miêng, hồ Miêng, một di tích lịch sử nổi tiếng nhưng nay đang bị lãng quên. Đến bến Then, có một con đò cho người đi bộ và xe máy, vượt qua một đoạn là phà Đức Bác chở ô tô sang đất Phú Thọ. Tôi run lên vì sướng. Mấy chục năm tôi chỉ ngắm những con sông từ xa hoặc chạy song song nó hoặc qua nó bằng cầu chứ có đò phà gì đâu. Tôi là người đầu tiên bỏ xe chạy xuống phà. Cái phà nhỏ, chứa được chục người và 3 cái ô tô. Chính tại trên con phà này, khi tôi đang mê mải ngắm sương mù dày đặc trên sông dù lúc ấy đã 11 giờ trưa thì nghệ sĩ nhiếp ảnh Vĩnh Hà nói: Hôm nay nếu không nhuận thì đang mùng 1 Tết Âm lịch đấy ạ.

Tất cả chúng tôi sững người.
Tự nhiên thấy khoảnh khắc này thiêng liêng hẳn.

Vụt nhớ về năm nào đấy, cũng cách đây dăm vụ rét, đúng mùng một Tết Dương lịch, chúng tôi được các nhà văn trẻ ở Hà Nội mời về dự một canh quan họ ở làng Đặng Xá. Áo quần nục nịch, đi trong cơn rét mà hân hoan mà phấn chấn, rồi “thời” một bữa cơm quê miền Bắc. Mâm của người Bắc là xếp bằng tròn trên chiếu hoa hoặc sập, đúng 6 người một mâm. Trời ạ, nó toàn là những món dân dã một thời, đã giúp dân ta chống đói, giúp người nông dân tồn tại qua tháng qua năm, qua thăng trầm qua biến cố, mà hôm nay nó lên hương lên cốt lên tinh túy lên linh hồn giữa cái tiếng xuýt xoa chiều cuối năm và cả những bồi hồi hoài tưởng trong không gian năm cùng tháng tận. Ấy là bánh đúc, đến 2 loại bánh đúc. Bánh đúc lạc chấm tương bần và bánh đúc không có lạc thái sợi để chan với riêu cua.

Những ai đã từng ở miền Bắc thì chắc không thể quên 2 món ăn của con nhà nghèo một thời. Một là cơm nắm mo cau muối vừng cho những chuyến đi xa, và 2 là bánh đúc, thường nấu vào ngày mưa cho đỡ... tốn gạo. Bây giờ nó thành đặc sản, mới nhìn đĩa bánh đúc lót trong sắc xanh rờn lá chuối đã thấy thổn thức tâm can tì vị. Một món nữa là ốc đồng nấu chuối đậu. Một thời nó cũng là món chống đói, đều từ cây nhà lá vườn cả. Các cụ đã rất giỏi khi kết hợp cái tanh của ốc với cái chát của chuối xanh, thêm lá lốt, tía tô, thêm tí mẻ... thế là có một tuyệt vời đặc sản ngày nay. Và tất nhiên là rượu nút lá chuối, món quê không thể khác...

Và rồi hóa ra không phải “Phúc bất trùng lai”. Hôm nay phúc đến với tôi lần nữa. Một cú điện thoại từ nhà văn Hà Phạm Phú đến nhà văn vừa tài hoa vừa đẹp trai, hào hoa bậc nhất đất tổ Phú Thọ Nguyễn Tham Thiện Kế ngay giữa sông Lô. Nghe giọng ông Kế hấp hởi: “Đến đi, đến ngay nhé”. Hóa ra là ông Phú hẹn ông Kế là chúng tôi sẽ đến nhà ông, ngay trưa nay.

Thì cứ coi như đang trưa mùng một Tết đi. Chính ngọ, một mâm cơm được bày giữa sân. Đầu bếp là vợ ông Kế. Riêng cái đoạn làm cơm xong ra ngồi chịu trận mấy ông ăn ít uống nhiều nói lắm thì bà này đã quá vĩ đại rồi. Lan man đủ thứ chuyện. Trời sầm sì đục ngầu mây và sương mù. Thoảng tí mưa xuân nữa, đủ để ướt tóc ướt vai mà không phải chuyển bàn vào trong nhà. Một cây đèn dầu cách điệu rất đẹp đặt giữa mâm, khiến không khí vừa tươi vừa thâm trầm. Tất cả mọi người trong mâm đều là dân đất tổ, là gộp cả Vĩnh Phúc và Phú Thọ vào; riêng tôi, kẻ tha hương, có gắn với các cố đô từ Huế tới Ninh Bình tới Thanh Hóa, và kể cả... Tây Nguyên. Thấy mình như một kẻ vừa về nhà, được quây quần trong mâm cỗ trưa ba mươi, ngay ở nhà thờ tổ. Hạnh phúc nào hơn?

Văn Công Hùng

.