123
Hoài niệm... mõ - Báo Gia Lai điện tử - Tin nhanh - Chính xác
.

(GLO)- Chẳng biết mõ xuất hiện từ bao giờ. Người xưa thường dùng công cụ này để gõ nhằm thông báo những thông tin cần thiết trong diện hẹp như cụm, làng xóm. Chiếc mõ-cầu nối cho mọi thông tin thời bấy giờ, nay đã trở thành hoài niệm.

Nói đến mõ, người đời thường ví “Miệng to như mõ làng” thì đủ biết sức vang xa của tiếng mõ trong một vùng xóm, thôn. Mõ làng có đường kính ít nhất 30 cm và dài ít nhất 1 mét, được đục rỗng ruột từ một thân cây cứng, chừa ra một khe rỗng dọc theo thân. Khi gõ phát ra âm thanh “cốc cốc” rất lớn. Mõ được treo cố định ở điếm canh hoặc nơi nhà cộng đồng thôn, xóm.

 

Mõ giờ chỉ còn tìm thấy ở một số đình miếu. Ảnh: internet
Mõ giờ chỉ còn tìm thấy ở một số đình miếu. Ảnh: internet

Mõ tay là chiếc mõ cho một người có thể cầm trên tay vừa đi vừa gõ. Loại này được làm bằng tre hoặc bằng gỗ, khoét miệng dọc theo thân cây (dài chừng 0,5 m, đường kính 15 cm). Thời xưa, thằng mõ đi rao còn mang theo cả ống loa gò bằng tôn, hoặc giấy cuộn, xong gõ một hồi 3 tiếng lại chõ miệng vào ống loa để loa những thông tin cần thiết, từ việc truyền bá họp hành đến những thông tin cảnh báo việc cấp thời. Sau này, mõ được “phổ cập” cho toàn dân mỗi nhà một chiếc khi có việc cần báo động (kẻ trộm hoặc phát hiện người lạ vào xóm, thú dữ vào bắt bò heo...). Khi mõ làng phát lên là các mõ gia đình đồng loạt gõ rộ náo động một vùng để báo động hoặc xua đuổi.

Mõ được trang bị như một loại vũ khí âm thanh vừa đe dọa, vừa cảnh báo việc quan trọng. Riêng trong nhà của các quan lại thời xưa, mõ cũng được trang bị để mời cơm cho gia đình, cũng như báo giờ làm việc và nghỉ việc. Sau này, mõ được thay thế thành chiếc trống có cán cầm tay gọi là trống cơm. Ngoài ra, người dân còn sáng tạo thêm loại mõ dùng cho trâu bò. Mõ được đục thành hình vuông rỗng ruột, trống 3 mặt, có chèn vào giữa khoảng rỗng treo lủng lẳng 3 thanh gỗ tròn rồi xâu sợi dây, đeo vào cổ của trâu hoặc bò, khi gia súc vào rừng kiếm ăn tiếng mõ rung lên giúp chủ nhân dễ tìm ra để dắt chúng về chuồng.

Những nhóm người vào rừng hái lượm cũng cần mang theo mõ tay, khi đi lạc nhau họ dùng hiệu lệnh mõ để gõ và tìm nhau. Nhất là khi gặp những bất trắc như thú rừng đe dọa cũng dùng mõ gây tiếng động để đối phó. Thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ, mõ cũng được dùng để gõ áp đảo, hô khẩu hiệu trong những cuộc biểu tình khi người dân xuống đường.

Giờ đây, những chiếc loa treo ở đầu thôn, đầu xóm đã làm thay nhiệm vụ của chiếc mõ làng, con người không phải dùng sức để đi rao từng nhà như ngày xưa. Cũng có nhiều địa phương dùng loa điện tử thay cho mõ cầm tay, âm thanh phát ra xa hơn, lớn hơn, người truyền tin thường ngồi trên xe đạp hoặc xe máy để loan tin cần thiết cho người dân.

Chiếc mõ giờ lại lui về trong các đình làng. Theo tục lệ, cứ mỗi đợt cúng tế thần xong là đến phần mâm cúng cô hồn ngoài sân. Trước khi cúng, chủ bái hoặc phụng tế làng dán 2 lá vàng mã lên 2 bên miệng mõ rồi đánh 3 hồi 9 tiếng (gọi là mời mõ). Tiếng mõ vang lên như để kêu gọi âm hồn còn lẩn khuất đâu đó về cùng hưởng mâm cúng này. Trong dịp lễ cúng khai sơn cũng vậy, vào mùng Mười tháng Giêng hàng năm tại các đình làng, mõ cũng được gõ lên như để xin phép chúa sơn lâm hoặc báo hiệu cho ngày đầu năm mới vào rừng được nhiều may mắn.

Khoảng 10 năm trở lại đây, các nghi thức tế lễ thần linh và cô hồn trong các đình miếu không còn hoặc rất ít sử dụng tiếng mõ. Chiếc mõ trong dân thì mất hẳn và chỉ còn lại số lượng ít được treo lủng lẳng nơi góc đình, miếu. Chiếc mõ, công cụ truyền thông của người xưa, nay đã trở thành hoài niệm...

An Sinh

.