.

(GLO)- Trước lợi ích kinh tế mang lại từ các loại cây công nghiệp dài ngày vốn phù hợp với thổ nhưỡng, khí hậu, trong những năm qua, các tỉnh Tây Nguyên đã nhanh chóng tăng diện tích các loại cây trồng cần nhiều nước tưới như: cà phê, hồ tiêu. Tính đến nay, Tây Nguyên có hơn 550.000 ha cà phê (Đak Lak trên 200.000 ha, Lâm Đồng trên 150.000 ha, Đak Nông trên 120.000 ha...); khoảng 40.000 ha hồ tiêu (Gia Lai trên 15.000 ha, Đak Lak 11.080 ha, Đak Nông trên 10.000 ha...). Trung bình, mỗi gốc cà phê cần đến 400-500 lít nước trong mỗi đợt tưới, thử hỏi chừng ấy diện tích sẽ tiêu tốn đến bao nhiêu tỷ khối nước trong 3-4 đợt tưới?
 

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Những yếu tố trên đã trực tiếp tác động đến hệ thống nước ngầm trên địa bàn Tây Nguyên. Theo số liệu của Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước quốc gia, trữ lượng khai thác tiềm năng nước dưới đất toàn vùng Tây Nguyên khoảng 11,8 triệu m3/ngày (năm 2016). Trong đó, trữ lượng khai thác an toàn khoảng 2,3 triệu m3/ngày. Thế nhưng thực tế cho thấy, có đến 50% nguồn nước tưới vườn được lấy từ các giếng khoan và giếng đào.

Cũng theo kết quả quan trắc của Đoàn Địa chất Thủy văn 704, tại các huyện Krông Pak, Lak, Krông Puk (tỉnh Đak Lak) năm 2004, mỗi giếng nước ngầm có thể cho khai thác 400 ngàn-600 ngàn m3/ngày thì nay khai thác chưa đến 300.000 m3/ngày. Tình hình này ở Gia Lai cũng không hơn. Theo kết quả đề tài khoa học “Đánh giá cân bằng, định hướng sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Gia Lai” của nhóm tác giả thuộc Liên đoàn Địa chất Thủy văn miền Trung và Sở Khoa học và Công nghệ Gia Lai thì trữ lượng khai thác tiềm năng nước dưới đất theo các vùng cân bằng năm 2010 là: vùng Nam Bắc An Khê 1.451.506 m3/ngày, vùng Nam Bắc Pleiku 1.492.608 m3/ngày, vùng Ayun Pa 528.633 m3/ngày, vùng Krông Pa 532.348 m3/ngày...

Thế nhưng, nhiều địa phương trong tỉnh do cần nước tưới cà phê, hồ tiêu nên người dân đã tự thuê dịch vụ khoan giếng lấy nước ngầm tưới vườn, nhiều giếng khoan sâu đến hàng trăm mét, làm ảnh hưởng lớn đến hệ thống nước ngầm dưới lòng đất, tác động xấu đến cấu tạo địa chất của cả vùng. Ngay tại TP. Pleiku, năm 2005, toàn thành phố chỉ có 47 giếng khoan thì năm 2011 lên đến hơn 200 giếng, trong đó chỉ có 70 giếng có phép. Hiện nay, số lượng giếng khoan của Pleiku là bao nhiêu thì cơ quan quản lý chưa nắm chính xác được nhưng chắc chắn không dưới 2.000 giếng.

Nguồn nước ngầm sụt giảm, đã vậy địa hình của Gia Lai phổ biến là cao nguyên, đồi núi chiếm đến 2/5 diện tích toàn tỉnh. Các tầng nước nông trên địa bàn hiện bị ô nhiễm, tầng nước sâu được bảo vệ bởi các tầng chứa nước phía trên; tuy nhiên cần có biện pháp bảo đảm an toàn khi khoan và khai thác giếng khoan hợp lý. Theo báo cáo hiện trạng bảo vệ môi trường Gia Lai từ năm 2010: Môi trường nước mặt tại hầu hết các điểm được quan trắc cho thấy bị ô nhiễm BOD5, COD và ni tơ, nghiêm trọng nhất là ở lưu vực sông Ba. Kể cả môi trường nước ngầm ở một vài thời điểm cũng có dấu hiệu chua hóa, ô nhiễm nitrat, nitrit, kim loại nặng; nghiêm trọng nhất là nguồn nước ở các phường Thắng Lợi, Diên Hồng, Ia Kring (TP. Pleiku) bị nhiễm dầu, nhiễm phèn; thị xã An Khê, xã Ia Mơr (huyện Chư Prông), Hbông (huyện Chư Sê), các xã trên địa bàn huyện Krông Pa đã thiếu nước trầm trọng, mạch nước ngầm lại bị ô nhiễm vôi và phèn, người dân không thể sử dụng được.

Trong khi đó, theo Quyết định số 01/2015/QĐ-UBND của UBND tỉnh về việc phê duyệt quy hoạch tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh đến năm 2025, mục tiêu cụ thể: đảm bảo nguồn nước sinh hoạt năm 2015 với 40 triệu m3/năm, đến 2020 với 47,7 triệu m3/năm và 57,8 triệu m3/năm đến năm 2025. Phân bổ hài hòa, hợp lý tài nguyên nước cho ngành nông nghiệp đến năm 2015 với 1,304 tỷ m3/năm, năm 2020 là 1,691 tỷ m3/năm và năm 2025 là 1,922 tỷ m3/năm... Trước những nguy cơ đã nêu, thiết nghĩ, ngành chức năng cần triển khai ngay những giải pháp nhằm khắc phục, cụ thể là quản lý thật chặt việc khoan giếng lấy nước ngầm, xây dựng các nhà máy nước cung cấp cho nhu cầu sinh hoạt của người dân; xây dựng hệ thống nước thải sản xuất, sinh hoạt ở các đô thị, không cho thải trực tiếp ra môi trường; không mở rộng diện tích cây công nghiệp dài ngày mà thâm canh diện tích hiện có để bảo vệ tài nguyên nước và sức khỏe của người dân.

Thanh Phong

.