,
Cập nhật lúc 15:42' 15/10/2009 (GMT+7)
“Mở rộng mạng lưới dạy nghề gắn với giải quyết việc làm”
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Măng Đung
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Măng Đung

LTS: Xung quanh vấn đề dạy nghề trên địa bàn, phóng viên Báo Gia Lai có cuộc trao đổi với Phó Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai, xin giới thiệu cùng bạn đọc.

* Thưa Phó chủ tịch UBND tỉnh, ông đánh giá như thế nào về thực trạng đội ngũ công nhân và lao động đã đào tạo và chưa qua đào tạo ở Gia Lai trong những năm qua?

Đào tạo nghề giữ một vai trò quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nguồn nhân lực nói chung, công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ nói riêng đang thực sự trở thành yếu tố quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững đất nước, tạo sức cạnh tranh trên thị trường lao động trong nước, khu vực và quốc tế.

Toàn cầu hóa, hội  nhập kinh tế khu vực  và quốc tế đang là xu thế tất yếu khách quan, cấp bách đối với mỗi quốc gia. Đó vừa là quá trình hợp tác vừa là quá trình cạnh trạnh để phát triển. Cạnh tranh kinh tế quốc tế đòi hỏi phải tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng hàng hóa, đổi mới công nghệ một cách nhanh chóng. Chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao chính là chìa khóa để phát triển kinh tế.

Gia Lai có tổng dân số hiện nay là 1.272.792 người, với 668.604 người trong độ tuổi lao động, chiếm 52% tổng dân số. Tỷ lệ qua đào tạo năm 2008 đạt 26%, trong đó tỷ lệ qua đào tạo nghề 16,2%. Tỷ lệ qua đào tạo này còn thấp so với mặt bằng chung  toàn quốc. Số lao động chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ cao, vì vậy nguồn nhân lực có chất lượng cao chưa đáp ứng được cho phát triển kinh tế- xã hội trên địa bàn tỉnh. Nguyên nhân là một số cơ chế chính sách ưu đãi của Nhà nước ban hành tại Nghị định số 72/1999/NĐ-CP ngày 19-8-1999; Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP, ngày 18-4-2005 của Chính phủ triển khai nhưng chưa đạt được hiệu quả cao. Chế độ chính sách đối với người học nghề quy định đã lâu đến nay vẫn áp dụng, chưa được thay đổi  nên không còn phù hợp. Việc đầu tư phát triển cơ sở dạy nghề lớn nhưng thu hồi vốn chậm, vì vậy phát triển dạy nghề ngoài công lập còn hạn chế.

Hoạt động quản lý của các cơ sở dạy nghề, đội ngũ giáo viên dạy nghề và trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng có phần hạn chế nhất định nên ảnh hưởng đến năng lực và chất lượng đào tạo. Cơ sở vật chất, trang- thiết bị dạy nghề đã được đầu tư đổi mới nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu đào tạo. Nhận thức của xã hội về xã hội hóa dạy nghề chưa đầy đủ, từ đó sự đóng góp đầu tư về cơ sở vật chất cho dạy nghề còn hạn chế. Mặt khác, sự đầu tư cho sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp giảm tác động đến sự đầu tư cho dạy nghề. Sức ép tâm lý về con đường học nghề để lập thân, lập nghiệp của người học và gia đình vẫn chưa được tháo gỡ nên học sinh phổ thông chưa thực sự an tâm khi vào đời bằng con đường học nghề.

* Đến năm 2020,Việt Nam trở thành một nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa; từ nay đến đó, kế hoạch đào tạo nghề cho đội ngũ lao động của Gia Lai như thế nào để đáp ứng nhu cầu nhân lực cho phát triển chung của đất nước?

Từ nay đến năm 2020, để cơ bản Việt Nam trở thành một nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì tỉnh ta phải phấn đấu đạt chỉ tiêu lao động qua đào tạo và qua đào tạo nghề ứng với từng giai đoạn: Hết năm 2009 chúng ta phải  đạt 28% lao động qua đào tạo và 18% lao động qua đào tạo nghề, cuối năm 2010 ta phải đạt được 30% lao động qua đào tạo và 20% lao động qua đào tạo nghề. Làm sao đến năm 2020, hai chỉ tiêu này phải đạt được khoảng 45% và 35%. Tất nhiên, về mặt chất lượng và sự phù hợp của ngành nghề đào tạo là những vấn đề chúng ta  phải quan tâm và kiên trì phấn đấu.

Đào tạo nghề theo chuẩn quốc tế giúp tăng số lao động xuất khẩu.
Đào tạo nghề theo chuẩn quốc tế giúp tăng số lao động xuất khẩu.

Để đạt được kế hoạch trên, chúng ta cần quán triệt những định hướng lớn sau đây: Phát triển dạy nghề là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và nhân dân, là bộ phận quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực. Đầu tư cho dạy nghề cũng như giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển, đóng vai trò cốt lõi bảo đảm phát triển kinh tế- xã hội bền vững. Phát triển dạy nghề về số lượng phải gắn với chất lượng, có chọn lọc kinh nghiệm tiên tiến của các nước phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Phát triển dạy nghề gắn với bảo đảm thực hiện công bằng xã hội, tạo cơ hội học nghề cho mọi người, tạo điều kiện phổ cập nghề cho thanh niên và người lao động, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra.

Đẩy mạnh đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp theo cơ cấu phát triển các ngành nghề và xuất khẩu lao động, xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động nói chung, trong đó có các đối tượng chính sách, bộ đội xuất ngũ; phát triển dạy nghề bảo đảm tính đồng bộ về phát triển quy mô đào tạo, mạng lưới trường dạy nghề, cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, chương trình, giáo trình và bảo đảm điều kiện để thực hiện liên thông giữa đào tạo và dạy nghề. Chuyển mạnh từ việc dạy nghề dựa trên năng lực sẵn có của cơ sở dạy nghề sang việc dạy nghề theo nhu cầu của doanh nghiệp và xã hội; gắn dạy nghề với kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của cả nước, của từng lĩnh vực, của vùng, địa phương, của các doanh nghiệp với nhu cầu việc làm. Đổi mới dạy nghề theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa toàn diện, đồng bộ. Đa dạng hóa phương thức, hình thức dạy nghề, tạo điều kiện huy động các lực lượng xã hội tham gia dạy nghề, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động được học nghề.

Tăng cường phân cấp quản lý cho các cấp, các ngành và nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở dạy nghề để có thể huy động các thành phần và lực lượng xã hội tham gia dạy nghề kể cả các doanh nghiệp và tư nhân. Đổi mới cơ chế, chính sách, nhất là cơ chế tài chính theo hướng kết hợp đầu tư của Nhà nước với đầu tư của xã hội thông qua việc đẩy mạnh xã hội hóa công tác dạy nghề. Ưu tiên đầu tư từ ngân sách cho cơ sở dạy nghề thuộc vùng khó khăn. Lựa chọn những nghề mũi nhọn, trọng điểm để ưu tiên đầu tư phát triển. Phát triển đội ngũ giáo viên trên cơ sở nhu cầu về số lượng, yêu cầu chất lượng giáo viên dạy nghề, có cơ chế, chính sách để huy động được giáo viên từ hệ thống giáo dục quốc dân, hệ thống các trường nghề, làng nghề, doanh nghiệp; đồng thời có các giải pháp nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề, nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên gắn với công tác thông tin, tuyên truyền, chính sách thu hút và tôn vinh giáo viên dạy nghề.

Đồng thời với đó, để thực hiện các định hướng lớn trên, thời gian tới cần đẩy mạnh thực hiện một số giải pháp như sau: Tăng cường công tác tuyên truyền vận động để nâng cao nhận thức cho toàn xã hội về dạy nghề; tiếp tục thực hiện và đổi mới chính sách về xã hội hóa dạy nghề; phát triển mạng lưới dạy nghề đến năm 2010 và các năm tiếp theo; nâng cao chất lượng đào tạo nghề.

* Xin cảm ơn ông!

Đinh Yến (thực hiện)
Đầu đề do Báo Gia Lai đặt.

Ý KIẾN CỦA BẠN

Báo Gia Lai có thể biên tập lại thư mà vẫn giữ đúng nội dung ý kiến và không bảo đảm mọi thư gửi về
,
,
,
,
,
,
,
,
,