123
Người M'Nông giữ lửa Ot ndrong - Báo Gia Lai điện tử - Tin nhanh - Chính xác
.

(GLO)- Ot ndrong là cách gọi của người M’Nông về hát-kể sử thi. Người thuộc ndrong đã hiếm, người biết ot-diễn xướng, lại càng hiếm hơn. Người bạn vong niên của tôi, nghệ nhân Điểu K’Lung, sau khi đã ngả nghiêng vì thứ nước rượu cần vàng óng như mật ong, ghé tai tôi nói: Được Yàng chọn cả đấy, không phải ai cũng ot được đâu, kon Kinh ạ!

“Kon Kinh” là cách gọi trìu mến ông thường gọi tôi, một anh bạn nhỏ tuổi người Kinh lại cứ hay lang thang vào rừng. Mà không vào rừng thì không gặp ông được, mặc dù gần đây, ông đã cẩn thận sắm một chiếc điện thoại di động nhét vào túi áo rồi bảo “kon Kinh lưu số vào để khi nào muốn uống rượu ghè thì đi tìm cho dễ!”.

 

Thế mà có dễ đâu. Gọi không được, tôi rủ anh bạn ở Phòng Văn hóa-Thông tin huyện Buôn Đôn tìm đến nhà thì ông đi rừng rồi!
 

Nghệ nhân Điểu K’Lung với những cuốn sử thi ông góp công sưu tầm, biên dịch. Ảnh: internet
Nghệ nhân Điểu K’Lung với những cuốn sử thi ông góp công sưu tầm, biên dịch. Ảnh: internet

Ông thường bảo: Tuổi mình giờ đã lớn, ngoài 70 rồi, ở nhà sẽ dễ bị bệnh lắm, vào rừng chơi cho khỏe tay khỏe chân, khi chặt ít cây củi, khi xuống suối thả lưới bắt con cá, vừa vui vừa khỏe! Tôi biết rồi, người Tây Nguyên đa số đều có máu “lang thang”, thích đi đây đi đó, với họ, đời là một cuộc lãng du bất tận... Huống chi, với Điểu K’Lung, một nghệ sĩ thực thụ, thì cuộc lãng du ấy còn dài hơn, như những câu ndrong kéo dài chừng như vô tận của người M’Nông.

Nghệ nhân Điểu K’Lung sinh năm 1941 ở bon Bu Đrăng, xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đak Nông trong một gia đình có 4 anh em.

 

Ngoại trừ một người mất sớm, 3 anh em còn lại đều là những nghệ nhân mà tiếng tăm của họ vang xa qua chín suối mười rừng trên miền đất Tây Nguyên huyền thoại này. Người anh lớn-Điểu K’Lứt bây giờ đang làm bảo vệ kiêm đánh trống cho một trường học ở quê nhà bên Tuy Đức.

 

Người anh thứ 2 là Điểu Kâu về với bến nước ông bà tính ra cũng đã mấy mùa rẫy. Người em út Điểu K’Lung thích lãng du, qua tận Bản Đôn tìm người thương rồi bị miền hoang sơ Làng Đảo bắt mất hồn từ thuở còn trai tráng. Cho đến bây giờ, đã mấy mươi mùa rẫy…

Có lần gặp tôi, ông lôi cái hòm gỗ cũ kỹ lục lọi mãi rồi cầm ra một quyển vở học trò chi chít toàn chữ M’Nông. Đó là công trình tâm đắc của Điểu K’Lung, tôi biết thế. Ông nhờ tôi: Kon Kinh còn trẻ, mắt tỏ, đánh máy giùm cái nhá, mai mốt mình chết rồi, nó thất lạc, con cháu M’Nông lại không biết nguồn gốc của mình.

Còn nhớ, cách đây chừng dăm năm, tôi dẫn một anh bạn cũng là nhà báo vào gặp nghệ nhân Điểu K’Lung. Đang hỏi han vui chuyện, anh bạn đề nghị: Già ơi, thử ot một đoạn sử thi cho tụi cháu nghe với! Ông già nghiêm nét mặt:

 

Tầm bậy, nói tầm bậy, không được! Tôi tỉ tê hỏi lại, thì ra, khác với người Ê Đê có thể kể khan bất kể ở đâu, vào bất cứ lúc nào, người M’Nông chỉ ot ndrong ở trên rẫy. Những lúc nghỉ ngơi, trong căn chòi canh lúa, người già người trẻ ngồi quây quần bên đống lửa nghe ot ndrong.

 

Nếu ot ở nhà thì phải làm một nghi lễ có rượu, có thịt đàng hoàng xin phép các Yàng, và khi được các Yàng đồng ý, lúc đó mới được bắt đầu. Đấy, người M’Nông là thế, rất tự do, lãng du rất mực, nhưng cũng có quy tắc ứng xử nghiêm ngặt, có trước, có sau.

Cách đây khoảng 10 năm, khi tỉnh Đak Lak đang thực hiện dự án sưu tầm sử thi, Điểu K’Lung ngày này qua ngày khác, tuần này qua tuần khác bắt xe buýt từ nhà ra Buôn Ma Thuột để ot ndrong thu vào băng cassette.

 

Ông tâm sự với tôi: Tiền nong không đáng bao nhiêu đâu kon Kinh à, nhưng mình phải chịu khó, để lại cho con cho cháu mà! Thế đấy, hễ cái gì có ích cho con cho cháu là ông làm, chăm chút, cẩn thận. Để đến bây giờ, trên đầu giường của ông là hàng chục quyển sách, mà quyển nào cũng đồ sộ hàng ngàn hàng vạn câu. Tiăng bán tượng gỗ, Con đỉa nuốt bon Tiăng, Luật tục M’Nông… Uống rượu vào, mắt sáng rực, ông đưa tay chỉ vào bụng mình, nói: Ở trong này còn mấy chục quyển nữa đó!

Tôi biết ông nói thật. Vì thế mà đâm lo, nếu mai này, lỡ ông về bến nước ông bà, xong một kiếp lãng du tài hoa, thì “mấy chục quyển”, cả một kho sử thi, truyện cổ, ca dao của người M’Nông chưa kịp khai thác ấy cũng sẽ vĩnh viễn trở về với đất! Năm nay, đã gần 80 tuổi, bước đi còn nhanh nhẹn, nhưng biết thế nào được với các Yàng mà nói trước.

Thế hệ kế tiếp giữ lửa sử thi M’Nông là Thị Mai, cháu gái ông. Mai may mắn sinh ra trong một gia đình truyền thống. Cha Mai, nghệ nhân Điểu Kâu là một trí thức M’Nông nổi tiếng.

 

Ông không chỉ có công trong việc giáo dục, dạy chữ cho bà con dân tộc mình ở tỉnh Quảng Đức trước đây mà kể từ khi phát hiện kho ndrong đang trầm tích trong bon làng, ông đã tham gia sưu tầm biên dịch nhiều tác phẩm.

 

Ngôi nhà Điểu Kâu từng là một nơi gặp gỡ, trao đổi về văn hóa dân gian M’Nông. Thêm bác ruột Điểu K’Lứt, chú ruột Điểu K’Lung đều là những kho ndrong lớn, Mai thừa hưởng truyền thống văn hóa dân tộc mình một cách tự nhiên. Nhờ sự dạy bảo tận tình của cha, Mai say mê ot ndrong từ khi chưa biết nhớ. Lần gặp gần đây nhất, cô cho biết đang phối hợp với Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch Đak Lak sưu tầm ca dao dân ca M’Nông, cũng được kha khá rồi!   

Người M’Nông vốn rất tài hoa và nghệ sĩ. Ngoài những pho sử thi đồ sộ đã sưu tầm, biên dịch được thì còn nhiều lắm những bài hát, những bài văn vần đang lưu truyền trong các bon làng. Mai bảo, nhiều lắm anh à, sợ sức em làm không xuể, đàn bà M’Nông như em, vất vả nhiều! Với Mai, quả là cuộc sống còn nhiều thứ quan trọng hơn sử thi, ca dao, cổ tích, nhưng tôi vẫn muốn tin rằng, người phụ nữ đã “được Yàng chọn” ấy sẽ không dễ dàng bỏ cuộc.

Đak Song, Tuy Đức, Buôn Đôn… những địa danh quen thuộc của người M’Nông, những cánh rừng già ngày càng lùi xa trong ký ức; cả những ndrong, ca dao, cổ tích, luật tục cũng đang bị nhịp sống hiện đại xô bồ với bao nhiêu thứ lo toan đè lấp. Nhưng, trong những bon làng xa xôi, thỉnh thoảng ta vẫn gặp những con người với phẩm chất nghệ sĩ và tinh thần trách nhiệm cao cả, họ đang âm thầm gìn giữ vốn văn hóa truyền thống quý báu cho con cháu mai sau.

Nguyễn Văn Thiện

.