Bản Cơ Tu trên đỉnh Trường Sơn
Thứ Năm, 10/11/2011, 06:50 [GMT+7]
.
(GLO)- Có một bản người Cơ Tu trên đỉnh đại ngàn Trường sơn. Bản ấy tên là Aur. Nơi ấy, người dân “sống chung… với rừng” nhưng cuộc sống khá no đủ. Cảnh sinh hoạt của họ gọn gàng, sạch sẽ.
Bản Cơ Tu trù phú
Sạch sẽ, ấm no, trù phú là tất cả những gì tôi được chứng kiến ở bản Aur. Có điều, đến được Aur không dễ, phải lội bộ hàng ngàn con dốc dựng đứng, đường nhỏ như lòng bàn chân. Nghe tôi đặt vấn đề nhờ dẫn đường lên bản Aur buổi sáng cuối tháng 9-2011, nhóm thanh niên thôn Zaréch- thôn thấp nhất dưới đại ngàn tròn xoe đôi mắt như chưa từng nhìn thấy người Kinh bao giờ. “Đang mùa mưa, muốn chết hay sao mà đòi trèo lên Aur”- Đhơn, một thanh niên cảnh báo. Năn nỉ mãi, cuối cùng tôi cũng được cậu Bhlinh Chứt nhận lời dẫn đường với mức tiền công 300 ngàn đồng. Đúng là đường đến Aur đầy mạo hiểm. Đâm lao đành theo lao, tôi run rẩy nhích từng bước một.
Sau hơn nửa ngày cắt rừng, cuối cùng tôi cũng hổn hển bò lên bản Aur. Thật khó tin, bản Aur đẹp lạ lùng, xung quanh bạt ngàn mây trắng. Trong cảm nhận của tôi, chỉ vài cái với tay đã chạm tới trời xanh, còn Trường Sơn đại ngàn ở dưới kia xa lắm.
Xế chiều, vừa tan buổi kiểm tra bài trên lớp, hai chị em Alăng Ngọc và Alăng Mai cười giòn tan trong nắng. Con được mấy tuổi? Ngọc lễ phép thưa: Dạ năm nay con 10 tuổi, học lớp 4; còn em Mai 7 tuổi, mới xong lớp 1. Bố mẹ của chúng đi rẫy từ 5 ngày trước. Hai chị em học lớp thầy giáo Uyên, buổi nào cũng được thầy khen. Quanh bản, những căn nhà bằng gỗ, nhỏ nhắn, sạch sẽ, tươm tất. Những bộ bàn ghế gỗ pơmu, lim bóng loáng, không tìm ra một hạt bụi. Mỗi ngày 3 lần, người già, trẻ em tập trung quét dọn nhà cửa, sân bản, nhà nào có rác bẩn trước nhà lập tức bị phê bình khi họp bản.
Thật khó tin, ở vùng núi cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài nhưng học sinh bản Aur ham học cái chữ đến lạ. Còn thầy giáo, say mê dạy chữ và được người trong bản coi như “già làng” thứ 2. Thầy giáo Lê Nam Uyên cõng chữ lên Aur dạy cho trẻ từ năm 2007 kể một câu chuyện tâm đắc: Cách đây 7 tháng, học trò Bhlinh Biet (6 tuổi) vào lớp 1, bé hát bài “Con cò bé bé” lần thứ 20 vẫn không trôi chảy như các bạn cùng lớp. Vậy là đêm đó, ăn cơm xong, em ngồi thu mình dưới bóng điện tua-bin tự chế sáng lờ mờ tập đọc đến thâu đêm.
Hôm sau, Bhlinh Biet đứng trước bảng đọc vanh vách, khiến bạn bè thán phục, được thầy Uyên cho điểm 10 đỏ chót. Tôi xem cuốn tập viết của Bhlinh Biet, nét chữ tròn trịa, nắn nót, đẹp đến không ngờ. “Học sinh ở đây là thế đó, còn nhỏ nhưng chúng đã biết đua nhau học. Nhất nhất, không một học sinh nào bỏ tiết hoặc đi học trễ, ngoại trừ bị ốm thật nặng, có bố mẹ tới lớp báo, xin phép thầy. Trước khi vào học, trong và ngoài lớp được các em dọn sạch sẽ, bàn ghế, phấn bảng ngăn nắp. Theo lời thầy giáo thì bản này học sinh mới được học cái chữ cách đây 7 năm, còn về trước hoàn toàn mù tịt.
Hôm sau, già làng Alăng Zèng hí hửng dắt tôi đi khắp bản khoe về sự trù phú, giàu có và sạch sẽ của Aur. Sáng sớm, khi sương mù vừa tan, Aur lấp ló hiện ra, đẹp như tranh vẽ. Đàn ông đi rẫy hết, chỉ còn người già, phụ nữ và trẻ em. Bể tắm giặt nước trong veo, chảy ào ạt cả ngày đêm, mát rượi. Thú thật, tôi từng đến hàng trăm bản người Cơ Tu, nhưng không giống những nơi ấy. Mới sáng ra, nhóm thiếu niên bản đã “rinh” về hàng chục ký cá liêng, ếch suối béo ngậy. Chúng bảo: Ở bản này tuy cách xa con đường dưới xuôi nhưng được cái đồ ăn vô biên, toàn đặc sản miền xuôi nhiều lúc bói không ra…
Chuyện của nữ “Võ Tòng”
Đó là mẹ Alăng Thảo- nhân vật mà hàng chục năm qua, người Aur xem là anh hùng sau hai sự kiện- bắn rơi máy bay Mỹ và giết cọp cứu dân. Năm nay tuổi đã gần 80 mùa rẫy nhưng mẹ vẫn giữ được giọng nói vang rền. Thi thoảng, cặp mắt tinh anh của mẹ vụt sáng sau những đoạn kể ly kỳ. Năm 1966, những viên đạn trong nòng súng của mẹ đã hạ gục chiếc máy bay Mỹ bên cánh rừng thượng nguồn sông Hương, Thừa Thiên-Huế. Hồi đó, mẹ sống ở xã Hưng Nguyên, huyện A Lưới, người dân gọi mẹ là Alăng Pró. Lên 16 tuổi, mẹ xung phong làm giao liên. “Một buổi trưa cuối tháng 5-1966, lúc mẹ đang đeo khẩu súng K44 (súng trường Mosin Nagant, loại súng của Nga) đi hái rau cho bữa tối, bỗng nghe tiếng máy bay rền vang trên đầu. Mẹ chọn bụi cây rậm rạp nép mình tránh những ánh mắt tàn ác của địch trong máy bay nhìn xuống.
Vài phút sau, ngước đầu lên đã thấy chiếc trực thăng trên đỉnh đầu. Mẹ cầm súng lựa thế nhằm thẳng “con chim sắt” (trực thăng) đen ngòm nổ liền 2 phát đạn. Đến phát thứ 3, “chim sắt” bốc cháy, khói đen bốc mù kín một góc trời rồi liệng rơi xuống khe suối. Sau lần hạ máy bay Mỹ, Tỉnh đội trao giấy khen và tấm ảnh Bác Hồ cho mẹ. Đến nay, tấm ảnh Bác mẹ vẫn nâng niu, gìn giữ như một kỷ vật quý.
Sự kiện đáng nhớ nhất của mẹ Thảo là huyền thoại bắn cọp bên triền sông Hương năm 1967. Thời ấy, con cọp dữ luôn khiến người dân khiếp đảm. Một buổi tối giữa tháng 7-1967, lúc mẹ Thảo trên đường về bản sau khi ra ngoài đưa liên lạc ra cho bộ đội, khi đến ngang dốc Suối thì trời tối mịt, mưa rừng ập xuống buộc mẹ mắc võng, che bạt ngủ. Khi tỉnh dậy xuống suối rửa mặt thì nhìn thấy từ bên kia bờ suối cách mẹ 20 bước chân, xuất hiện con cọp dữ vằn vện đang chiếu đôi mắt hung dữ nhìn sang phía mình. “Trước thế ngàn cân treo sợi tóc, mẹ phải hành động theo bản năng thôi con ạ, vì nếu bỏ chạy, cọp sẽ rượt theo ngay”- mẹ Alăng Thảo nói run run. Ngay lập tức, mẹ giơ khẩu K44 lên đạn nhắm thẳng đôi mắt đỏ au của con cọp, bóp cò.
Trúng đạn, nhưng con cọp không chết, nó bay qua suối lao thẳng vào người mẹ thì bị mẹ bật lưỡi lê từ nòng súng dương lên nhắm thẳng cuống họng con ác thú đâm tới. Sức nặng của cọp ập vào người mẹ, da sước, máu chảy đầm đìa và một cánh tay mẹ bị gãy. Sau lưỡi lê sắc bén, con cọp dãy chết sau vài phút đồng hồ. Sau sự kiện này, người dân mở tiệc liên hoan suốt một tuần. Nhắc lại chuyện 43 năm trước, giờ đây mẹ vẫn còn nghe thoang thoảng mùi hôi thối kinh khủng từ lông cọp xông vào mũi mình.
Với mẹ, chuyện bắn máy bay, giết cọp cứu dân giờ là dĩ vãng. Vả lại, mấy chục năm qua nơi thâm sơn cùng cốc, không ai hỏi đến việc này nữa, giấy tờ mẹ cũng mất sạch sau những lần di dân nên mẹ cũng chẳng nhắc gì chuyện công trạng. Có điều, với người Aur, hơn 40 năm qua, mẹ vẫn là anh hùng của bản.
Trở lại câu chuyện bản Aur, già làng Alăng Zèng kể: Nguyên thủy bản Aur trước đây là đất của một tộc người Cơ Tu. Trải qua hàng chục năm chiến tranh, bom đạn, không ít gia đình phải sơ tán từ trên đỉnh Trường Sơn về làng Thượng Long (huyện Nam Đông- Thừa Thiên-Huế), chỉ còn ít gia đình quyết bám trụ đỉnh núi Aur, sau đó sinh con đẻ cái, tạo thành bản Aur bây giờ. Đến năm 2003, khi phân định ranh giới, biết Aur thuộc huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam, ông Bhriu Liếc- Chủ tịch UBND huyện đã nhận Aur về cho xã A Vương.
Vào “biên chế” của xã rồi, nhưng chuyện băng rừng xuống xã quá khó khăn. Thương đồng bào, huyện đã huy động công sức thanh niên các xã dưới xuôi và Aur dành gần nửa tháng ăn ngủ với rừng mở con đường độc đạo đến Aur.
Bản Cơ Tu trù phú
Sạch sẽ, ấm no, trù phú là tất cả những gì tôi được chứng kiến ở bản Aur. Có điều, đến được Aur không dễ, phải lội bộ hàng ngàn con dốc dựng đứng, đường nhỏ như lòng bàn chân. Nghe tôi đặt vấn đề nhờ dẫn đường lên bản Aur buổi sáng cuối tháng 9-2011, nhóm thanh niên thôn Zaréch- thôn thấp nhất dưới đại ngàn tròn xoe đôi mắt như chưa từng nhìn thấy người Kinh bao giờ. “Đang mùa mưa, muốn chết hay sao mà đòi trèo lên Aur”- Đhơn, một thanh niên cảnh báo. Năn nỉ mãi, cuối cùng tôi cũng được cậu Bhlinh Chứt nhận lời dẫn đường với mức tiền công 300 ngàn đồng. Đúng là đường đến Aur đầy mạo hiểm. Đâm lao đành theo lao, tôi run rẩy nhích từng bước một.
![]() |
| Đường lên bản Aur, không phải ai cũng có gan chấp nhận đi. Ảnh: Quỳnh Nga |
Xế chiều, vừa tan buổi kiểm tra bài trên lớp, hai chị em Alăng Ngọc và Alăng Mai cười giòn tan trong nắng. Con được mấy tuổi? Ngọc lễ phép thưa: Dạ năm nay con 10 tuổi, học lớp 4; còn em Mai 7 tuổi, mới xong lớp 1. Bố mẹ của chúng đi rẫy từ 5 ngày trước. Hai chị em học lớp thầy giáo Uyên, buổi nào cũng được thầy khen. Quanh bản, những căn nhà bằng gỗ, nhỏ nhắn, sạch sẽ, tươm tất. Những bộ bàn ghế gỗ pơmu, lim bóng loáng, không tìm ra một hạt bụi. Mỗi ngày 3 lần, người già, trẻ em tập trung quét dọn nhà cửa, sân bản, nhà nào có rác bẩn trước nhà lập tức bị phê bình khi họp bản.
Thật khó tin, ở vùng núi cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài nhưng học sinh bản Aur ham học cái chữ đến lạ. Còn thầy giáo, say mê dạy chữ và được người trong bản coi như “già làng” thứ 2. Thầy giáo Lê Nam Uyên cõng chữ lên Aur dạy cho trẻ từ năm 2007 kể một câu chuyện tâm đắc: Cách đây 7 tháng, học trò Bhlinh Biet (6 tuổi) vào lớp 1, bé hát bài “Con cò bé bé” lần thứ 20 vẫn không trôi chảy như các bạn cùng lớp. Vậy là đêm đó, ăn cơm xong, em ngồi thu mình dưới bóng điện tua-bin tự chế sáng lờ mờ tập đọc đến thâu đêm.
![]() |
| Nụ cười của trẻ thơ ở Aur. |
Hôm sau, già làng Alăng Zèng hí hửng dắt tôi đi khắp bản khoe về sự trù phú, giàu có và sạch sẽ của Aur. Sáng sớm, khi sương mù vừa tan, Aur lấp ló hiện ra, đẹp như tranh vẽ. Đàn ông đi rẫy hết, chỉ còn người già, phụ nữ và trẻ em. Bể tắm giặt nước trong veo, chảy ào ạt cả ngày đêm, mát rượi. Thú thật, tôi từng đến hàng trăm bản người Cơ Tu, nhưng không giống những nơi ấy. Mới sáng ra, nhóm thiếu niên bản đã “rinh” về hàng chục ký cá liêng, ếch suối béo ngậy. Chúng bảo: Ở bản này tuy cách xa con đường dưới xuôi nhưng được cái đồ ăn vô biên, toàn đặc sản miền xuôi nhiều lúc bói không ra…
Chuyện của nữ “Võ Tòng”
Đó là mẹ Alăng Thảo- nhân vật mà hàng chục năm qua, người Aur xem là anh hùng sau hai sự kiện- bắn rơi máy bay Mỹ và giết cọp cứu dân. Năm nay tuổi đã gần 80 mùa rẫy nhưng mẹ vẫn giữ được giọng nói vang rền. Thi thoảng, cặp mắt tinh anh của mẹ vụt sáng sau những đoạn kể ly kỳ. Năm 1966, những viên đạn trong nòng súng của mẹ đã hạ gục chiếc máy bay Mỹ bên cánh rừng thượng nguồn sông Hương, Thừa Thiên-Huế. Hồi đó, mẹ sống ở xã Hưng Nguyên, huyện A Lưới, người dân gọi mẹ là Alăng Pró. Lên 16 tuổi, mẹ xung phong làm giao liên. “Một buổi trưa cuối tháng 5-1966, lúc mẹ đang đeo khẩu súng K44 (súng trường Mosin Nagant, loại súng của Nga) đi hái rau cho bữa tối, bỗng nghe tiếng máy bay rền vang trên đầu. Mẹ chọn bụi cây rậm rạp nép mình tránh những ánh mắt tàn ác của địch trong máy bay nhìn xuống.
![]() |
| Trẻ em ở Aur biết đi bắt cá suối cải thiện bữa ăn. |
Sự kiện đáng nhớ nhất của mẹ Thảo là huyền thoại bắn cọp bên triền sông Hương năm 1967. Thời ấy, con cọp dữ luôn khiến người dân khiếp đảm. Một buổi tối giữa tháng 7-1967, lúc mẹ Thảo trên đường về bản sau khi ra ngoài đưa liên lạc ra cho bộ đội, khi đến ngang dốc Suối thì trời tối mịt, mưa rừng ập xuống buộc mẹ mắc võng, che bạt ngủ. Khi tỉnh dậy xuống suối rửa mặt thì nhìn thấy từ bên kia bờ suối cách mẹ 20 bước chân, xuất hiện con cọp dữ vằn vện đang chiếu đôi mắt hung dữ nhìn sang phía mình. “Trước thế ngàn cân treo sợi tóc, mẹ phải hành động theo bản năng thôi con ạ, vì nếu bỏ chạy, cọp sẽ rượt theo ngay”- mẹ Alăng Thảo nói run run. Ngay lập tức, mẹ giơ khẩu K44 lên đạn nhắm thẳng đôi mắt đỏ au của con cọp, bóp cò.
Trúng đạn, nhưng con cọp không chết, nó bay qua suối lao thẳng vào người mẹ thì bị mẹ bật lưỡi lê từ nòng súng dương lên nhắm thẳng cuống họng con ác thú đâm tới. Sức nặng của cọp ập vào người mẹ, da sước, máu chảy đầm đìa và một cánh tay mẹ bị gãy. Sau lưỡi lê sắc bén, con cọp dãy chết sau vài phút đồng hồ. Sau sự kiện này, người dân mở tiệc liên hoan suốt một tuần. Nhắc lại chuyện 43 năm trước, giờ đây mẹ vẫn còn nghe thoang thoảng mùi hôi thối kinh khủng từ lông cọp xông vào mũi mình.
Với mẹ, chuyện bắn máy bay, giết cọp cứu dân giờ là dĩ vãng. Vả lại, mấy chục năm qua nơi thâm sơn cùng cốc, không ai hỏi đến việc này nữa, giấy tờ mẹ cũng mất sạch sau những lần di dân nên mẹ cũng chẳng nhắc gì chuyện công trạng. Có điều, với người Aur, hơn 40 năm qua, mẹ vẫn là anh hùng của bản.
Trở lại câu chuyện bản Aur, già làng Alăng Zèng kể: Nguyên thủy bản Aur trước đây là đất của một tộc người Cơ Tu. Trải qua hàng chục năm chiến tranh, bom đạn, không ít gia đình phải sơ tán từ trên đỉnh Trường Sơn về làng Thượng Long (huyện Nam Đông- Thừa Thiên-Huế), chỉ còn ít gia đình quyết bám trụ đỉnh núi Aur, sau đó sinh con đẻ cái, tạo thành bản Aur bây giờ. Đến năm 2003, khi phân định ranh giới, biết Aur thuộc huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam, ông Bhriu Liếc- Chủ tịch UBND huyện đã nhận Aur về cho xã A Vương.
Vào “biên chế” của xã rồi, nhưng chuyện băng rừng xuống xã quá khó khăn. Thương đồng bào, huyện đã huy động công sức thanh niên các xã dưới xuôi và Aur dành gần nửa tháng ăn ngủ với rừng mở con đường độc đạo đến Aur.
Quỳnh Nga
.


