.
.

Gần 5 năm đi đòi quyền thừa kế đất

Thứ Hai, 06/04/2009, 16:32 [GMT+7]
Chị Lê Quốc Việt - tổ dân phố 7 -  phường Thắng Lợi - TP. Pleiku gần 5 năm nay đã mang đơn đi khiếu nại khắp các cơ quan để đòi quyền thừa kế đất. Vụ việc tưởng chừng đã kết thúc khi Tòa án Nhân dân TP. Pleiku nhiều lần mời các bên liên quan đến tìm tiếng nói chung và đưa ra xét xử. Nhưng do sự tắc trách của các cơ quan chức năng nên vụ việc vẫn nằm im cho đến tận bây giờ…

Lật lại hồ sơ

Theo những nguồn tin chúng tôi có được, năm 1978, ông Lê Văn Nhường kết hôn với bà Nguyễn Thị Phượng và sinh sống tại phường Hội Phú - TP. Pleiku và sinh được 2 người con gái là Lê Quốc Việt (SN 1979), Lê Thị Việt Kiều (SN 1983). Đến năm 1985, khi ông Nhường đi làm thuê tại thôn 1-xã Chư Á- TP. Pleiku có nảy sinh quan hệ tình cảm với bà Lê Thị An và đến năm 1988, vợ chồng ông Nhường bà Phượng chia tay nhau, ông Nhường về ở luôn tại nhà ông Minh. Năm 1989, cùng với số tiền dành dụm được và tiền công trong những ngày làm thuê ở đây, ông Lê Văn Nhường đã đóng được một tủ gỗ và sau đó đổi cho gia đình ông Hà Trung Nghĩa (cùng địa chỉ) lấy một lô đất 650 m2 ở tổ 1 -  thôn1 - xã Chư Á  (nay là tổ 7 - phường Thắng Lợi - TP. Pleiku).

Lô đất đang tranh chấp.
Lô đất đang tranh chấp.
Năm 1993, ông Lê Văn Nhường được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00191 QĐSDĐ/02PK-B967467, ngày 4-1-1993, với diện tích 650 m2 mang tên Lê Văn Nhường. Cùng lúc đó, bà An và ông Nhường về chung sống với nhau  như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Năm 2001, bà An mua đất, xây nhà và chuyển ra ở riêng. Sau đó, do cuộc sống khó khăn ông Nhường cầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất  của mình đến Quỹ tín dụng xã Chư Á vay 800.000 đồng. Trong thời gian đó, bà An đã đến Quỹ Tín dụng xã Chư Á trả nợ thay cho ông Nhường sau đó chiếm dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông. Ngày 4-11-2003, ông Nhường phát hiện việc này và ngày 9-2-2004 ông có đơn khởi kiện bà An lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông. Vụ việc chưa được giải quyết thì đến ngày 30-3-2004, ông Nhường đột ngột qua đời (không để lại di chúc). Sau khi ông Nhường chết, bà An có đơn kiến nghị Công an TP. Pleiku xin giấy chứng tử của ông Nhường nhưng không được chấp nhận, vì hai người không có đăng ký kết hôn. Nhưng sau đó, không biết bằng cách nào, bà An lấy giấy chứng tử của ông Nhường phô-tô để làm thủ tục điền thêm tên Lê Thị An vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nhường, đồng thời chiếm dụng luôn lô đất với lý do bà là vợ hợp pháp của ông Nhường. Và từ đó hành trình đi đòi quyền thừa kế của hai chị em Lê Quốc Việt và Lê Thị Việt Kiều kéo dài đến nay.

Sự tắc trách của cơ quan chức năng

Sau khi ông Nhường chết, chị Lê Quốc Việt đã nhiều lần gửi đơn đến phường Thắng Lợi và các cơ quan chức năng của UBND TP. Pleiku đề nghị giải quyết sự việc trên. Tòa án Nhân dân TP. Pleiku đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Sau đó, Tòa án Nhân dân TP. Pleiku đã đề nghị Phòng Tài nguyên và Môi trường TP. Pleiku xác minh lại việc bà Lê Thị An đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Lê Văn Nhường. Qua kiểm tra, Phòng Tài Nguyên và Môi trường TP. Pleiku có Công văn số 30/CV-TNMT ngày 26-8-2005 trả lời: “Giữa bà Lê Thị An và ông Lê Văn Nhường có chung sống với nhau từ năm 1985 đến năm 2004 nhưng không có giấy đăng ký kết hôn, do đó không có cơ sở xác minh bà An là vợ hợp pháp của ông Nhường, việc Phòng đã điều chỉnh xác nhận trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà An là không đúng. Nay Phòng xóa bỏ việc xác nhận trên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nhường, đề nghị bà Lê Thị An đem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên đến Phòng Tài nguyên và Môi trường để điều chỉnh. Nhưng bà An vẫn không chấp hành quyết định trên mà vẫn tiếp tục gửi đơn kiến nghị ". Ngày 29-12-2005, Tòa án Nhân dân TP. Pleiku đưa vụ việc ra xét xử sơ thẩm, với bản án số 05/2005/DSST do thẩm phán Nguyễn Văn Châu chủ tọa phiên tòa và có quyết định: “Buộc bà Lê Thị An trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B962467 vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00191/QSDĐ/02-PK ngày 4-1-1993 đứng tên ông Lê Văn Nhường về quyền sử dụng 650 m2 đất tại xã Chư Á- TP. Pleiku cho bà Huỳnh Thị Tỉnh (mẹ ông Nhường), Lê Quốc Việt, Lê Thị Việt Kiều...”. Vụ việc

* Ông Lưu Anh Tuấn-Thẩm phán Tòa án Nhân dân TP. Pleiku-người thụ lý vụ án cho biết: “Mọi việc đã rõ ràng, nhưng Phòng Tài nguyên và Môi trường TP. Pleiku không thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Lê Thị An nên chúng tôi chưa thể tiến hành xét xử. Nếu thu hồi được vụ việc sẽ nhanh chóng được giải quyết…”.


* Ông Ngô Xuân Hiền- Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường TP. Pleiku, người trực tiếp xử lý vụ việc, lại khẳng định: “Vụ việc đang được Tòa án Nhân dân thành phố thụ lý, khi tòa án xử xong chúng tôi sẽ thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà An. Còn bây giờ dù nhiều lần chúng tôi gửi giấy mời bà An đem lên để điều chỉnh nhưng bà không chấp hành nên không có cách nào giải quyết, nên phải đợi việc xét xử của tòa án…”.

tưởng chừng đã được giải quyết thì đến ngày 5-1-2006 bà An  có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm của Tòa án Nhân dân TP. Pleiku lên Tòa án Nhân dân tỉnh. Ngày 29-6-2006, Tòa án Nhân dân tỉnh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm với bản án số 37/2006/DS-PT, do thẩm phán Nguyễn Thanh Hỏa chủ tọa phiên tòa, xét thấy trong phiên xét xử sơ thẩm có sai lầm trong việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp dẫn đến sai lầm trong áp dụng pháp luật, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và điều tra chưa đầy đủ nên quyết định: “Hủy bản án sơ thẩm số 05/2005/DSST ngày 29-12-2005 của Tòa án Nhân dân TP. Pleiku… chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho Tòa án Nhân dân TP. Pleiku để giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật…”. Từ đó đến nay, bà An vẫn sử dụng lô đất trên vào mục đích riêng của mình dù đã rất nhiều lần gia đình chị Lê Quốc Việt gửi đơn kiến nghị nhưng vụ việc vẫn rơi vào im lặng.

Khúc mắc của vụ việc không biết đến bao giờ mới được giải quyết dứt điểm, nhưng gần 5 năm nay gia đình chị Việt phải cầu cứu khắp nơi để đòi lại công bằng. Thiết nghĩ Tòa án và Phòng Tài nguyên và Môi trường TP. Pleiku cần có sự phối hợp tìm biện pháp xử lý để đem lại công bằng cho người dân.
Lê Anh
.
.
.
.